Thứ Năm, 15 tháng 2, 2024

Qara'unas của Sát Hợp Đài hãn quốc

những bộ lạc Qara'unas khá khác những bộ lạc Thổ-lai-Mông-Cổ, trong đó có bộ lạc Ba Lỗ của Thiếp Mộc Nhi què, của Sát Hợp Đài hãn quốc; vì Qara'unas từng là quân đồn trú trung thành với Y Nhi hãn quốc
Sát Hợp Đài hãn quốc
năm 1334 Đáp Nhi Ma Thất Lý (ảnh dưới) bị giết hại, Sát Hợp Đài Hãn Quốc bị chia cắt, trong ấy thành lập Tây quốc Sát Hợp Đài là một liên bang những bộ lạc du mục Thổ-lai-Mông-Cổ, dân định cư và người miền núi dãy núi Hindu Kush và tỉnh Badakhshan
Tây hãn quốc Sát Hợp Đài

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2024

Tetrabiblos - sách chiêm tinh Hy Lạp kế thừa đế chế Babylon

13:30 | 13/04/2023
(PetroTimes) - trong quá trình trùng tu, nhóm các nhà khảo cổ học người Ai Cập và Đức lần đầu tiên phát hiện ra đầy đủ 12 cung hoàng đạo trên trần đền Esna (thuộc tỉnh Luxor, Ai Cập). Đây là một khám phá thú vị về hành trình phát triển của nhánh chiêm tinh học này
đền Esna gần 2000 năm tuổi ở tỉnh Luxor, Ai Cập
đền Esna, còn được biết tới là đền Khnum, là một quần thể đền dành riêng cho vị thần Ai Cập cổ đại đầu cừu đực Khnum - người được tin là đã tạo ra con người trên 1 bàn quay gốm - và các phối ngẫu của ông là Menhit và Nebtu, con trai của họ là Heka và nữ thần Neith
đền thờ Esna có từ thời La Mã. Việc xây dựng bắt đầu dưới triều đại Hoàng đế Claudius trong khi phần trang trí được hoàn thiện vào thời Hoàng đế Decius (ảnh dưới) 249-251 sau Công nguyên. Trong thế kỷ XIX và XX, ngôi đền bị các ngôi nhà xây dựng xung quanh xâm lấn. Esna nằm cách Cairo khoảng 680km về phía Đông Nam
dự án trùng tu đền Esna khởi đầu vào năm 2018, được tài trợ bởi Viện Nghiên cứu Mỹ ở Cairo và do các nhà khảo cổ Ai Cập và Đức từ Đại học Tubingen (ảnh dưới) góp sức. Công việc bị gián đoạn do dịch Covid-19 và tái khởi động vào năm 2020
sau khi làm sạch và phục hồi, các nhà khảo cổ đã phát hiện hình ảnh về thiên văn với màu sắc tươi sáng trên bầu trời nền xanh lam nhạt của Ai Cập cổ đại, miêu tả các cung hoàng đạo, một số hành tinh như sao Mộc, sao Thổ, sao Hỏa. Ngoài ra còn có một số ngôi sao và chòm sao (được gọi là 7 mũi tên) mà người Ai Cập cổ đại dùng để đo lường thời gian
biểu tượng bọ cạp, đại diện cho cung Bọ Cạp
tiến sĩ Hisham El-Leithy (ảnh dưới) trưởng đoàn Ai Cập tham gia dự án trùng tu - cho biết, đây là lần đầu tiên các nhà khoa học tìm thấy những chữ khắc và phù điêu đầy đủ về 12 cung hoàng đạo được người Ai Cập cổ đại sử dụng ở ngôi đền Esna. Ông khẳng định những phát hiện này không được ghi lại trong ấn bản khám phá trước đây về ngôi đền Esna vào năm 1963 và 1975 của nhà Ai Cập học người Pháp quá cố Serge Sauneron
chuyên gia Christian Leitz - Trưởng đoàn của Đức, thuộc Đại học Tübingen - cho hay, những biểu tượng về cung hoàng đạo này rất hiếm trong những ngôi đền ở Ai Cập. Cung hoàng đạo là một phần của thiên văn học Babylon, có khả năng được đưa vào Ai Cập thuộc thời kỳ người Hy Lạp cai trị trong 3 thế kỷ trước Công nguyên
các nhà khảo cổ học cho rằng, hệ thống cung hoàng đạo trở nên rất phổ biến vì được sử dụng để trang trí các ngôi mộ, quan tài và là một yếu tố quan trọng trong các văn bản chiêm tinh và lá số tử vi được khắc bằng chữ Demotic trên các ostraca (những mảnh gốm có khắc chữ). Tuy nhiên, những hình ảnh về các cung hoàng đạo rất hiếm thấy trong các ngôi đền Ai Cập cổ đại. “Ngoài Esna, chỉ có hai phiên bản được bảo tồn hoàn thiện, đều từ đền Hathor ở Dendera” - ông Leitz (ảnh dưới) nói thêm - “Trong đó, một phiên bản nằm ở cổng vào điện thờ và một phiên bản trên mái nhà nguyện đã được rời tới Louvre, Pháp”
lịch sử về các cung hoàng đạo, lý do các ngôi sao trông như luôn di chuyển là bởi trái đất tự xoay quanh trục của nó và quay quanh mặt trời. Mặc dù chiêm tinh học tìm kiếm câu trả lời, dấu hiệu và dự đoán thông qua chuyển động của các thiên thể, bản thân nó không phải là khoa học. Nhưng lĩnh vực này có một lịch sử lâu dài, trong đó con người nhìn lên các vì sao để lên kế hoạch cho cuộc sống của mình
người Ai Cập cổ đại từ lâu đã dùng bầu trời như một loại lịch có thể đoán thời tiết, trong khi những người lữ hành coi bầu trời như la bàn, đi theo lối các vì sao
ai là người đầu tiên nhìn lên bầu trời để phán đoán chuyện xảy ra dưới mặt đất và giải nghĩa tại sao con người lại hành xử theo những cách nhất định? Không ai biết chính xác điều này, nhưng các nhà sử học và thiên văn học có tìm hiểu được một chút về con đường phát triển của nó
hình vẽ trên hang động cho thấy người xưa tin rằng mọi thứ có thể thấm nhuần một dạng tâm linh nào đó và chịu ảnh hưởng của nó. Chẳng hạn, Trung Quốc cổ đại coi nhật thực là điềm báo về hoàng đế. Người Samari và Babylon, vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên, đã có nhiều tập tục bói toán, quan sát các vì sao để xác định vị trí các vị thần trên bầu trời. Người Ai Cập cổ đại đóng góp ý tưởng về các chòm sao, qua đó, dường như mặt trời di chuyển tới nơi nào đó vào một thời điểm nhất định trong năm
người Babylon chia cung hoàng đạo thành 12 cung bằng nhau từ năm 1500 trước Công nguyên, đặt tên tương tự như ngày nay và những cái tên đó được người Hy Lạp đưa vào bói toán sau này. Học giả Hy Lạp Claudius Ptolemy (100-170), tác giả “Tetrabiblos”, cuốn sách trở thành cốt lõi trong lịch sử chiêm tinh phương Tây, đã giúp phổ biến 12 cung hoàng đạo. Ý tưởng mặt trời di chuyển đều đặn qua các cung mỗi năm đã được Ptolemy hệ thống hóa. Ngay cả từ “zodiac” (cung hoàng đạo) cũng bắt nguồn từ Hy Lạp, một thuật ngữ chỉ “hình động vật được điêu khắc”. Thời Hy Lạp, ngày đầu tiên của mùa xuân bắt đầu khi mặt trời tiến vào chòm sao Bạch Dương
nhiều thế kỷ, chiêm tinh học về cơ bản được coi như thiên văn học. Thế kỷ 17 nhà thiên văn học Johannes Kepler nghiên cứu chuyển động của các hành tinh, bấy giờ được coi là nhà chiêm tinh. Điều này chỉ thay đổi vào khoảng đầu thời kỳ khai sáng vào cuối thế kỷ 17
Isaac Newton cơ bản biến bầu trời thành một máy tính, toán học hóa chuyển động của các hành tinh và nhận ra lực hấp dẫn kiểm soát mọi thứ, tất cả đã bắt đầu một cách tiếp cận hoàn toàn mới khi quan sát bầu trời và chuyển động của các hành tinh và trái đất
theo thăm dò của Tổ chức Khoa học quốc gia Mỹ năm 2014, một nửa thế hệ Gen Y (còn gọi là Millennials, những người sinh ra trong khoảng năm 1981-1996) coi chiêm tinh như môn khoa học, ngay cả khi câu trả lời của chiêm tinh không dựa trên nghiên cứu khoa học. Lý do khiến mọi người tiếp tục hướng về bầu trời vẫn là để tìm kiếm những diễn giải phù hợp với những gì chúng ta hy vọng là đúng
nhân vật giống nhân mã, đại diện cho cung Nhân Mã
Bạch Dương (21-3 đến 19-4); Kim Ngưu (20-4 đến 20-5); Song Tử (21-5 đến 20-6); Cự Giải (21-6 đến 22-7); Sư Tử (23-7 đến 22-8); Xử Nữ (23-8 đến 22-9); Thiên Bình (23-9 đến 22-10); Bọ Cạp (23-10 đến 21-11); Nhân Mã (22-11 đến 21-12); Ma Kết (22-12 đến 19-1); Bảo Bình (20-1 đến 18-2); Song Ngư (19-2 đến 20-3)
cung Song Tử được phát hiện trên trần ngôi đền
những cung hoàng đạo được đặt theo tên các chòm sao với thời gian dựa trên mối quan hệ giữa vị trí của chúng trên bầu trời với mặt trời
Quỳnh Anh

Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2024

Xijun - công chúa heqin (hoà thân) đầu tiên của nhà Tây Hán

bởi Cam ✧ ⋆。˚ ୨୧ ngày 09 tháng 01 năm 2023
Lịch sử về công chúa Xijun nhà Tây Hán
Liu Xijun (tiếng Trung: 劉細君; 123?–101 TCN), còn được gọi là Công chúa Xijun (細君公主), Công chúa Jiangdu (tiếng Trung: 江都公主) hoặc Công chúa Ô Môn (tiếng Trung: 烏孫公主), là một công chúa của nhà Hán được gửi đến để kết hôn với vua Liejiaomi (猎驕靡) nước Ô Môn (烏孫) như một hoà thân [heqin]; một bài thơ được cho là của bà là một trong những bài thơ Trung Quốc sớm nhất được cho là của một người phụ nữ có tên
Liu Xijun là con gái của Liu Jian (劉建) vương Jiangdu (nay là Dương Châu tỉnh Giang Tô) và cũng là cháu gái của Liu Fei con trưởng của Hán Cao Tổ. Xijun mồ côi khi còn là một đứa trẻ sơ sinh. Cha của cô được mô tả là loạn luân, độc ác và đồi trụy, và phải tự sát sau khi dính líu đến một cuộc nổi loạn. Mẹ cô cũng bị xử tử cùng năm vì tội "hành nghề phù thủy"
năm 105 trước công nguyên, Xijun được hoàng đế Wu (Vũ đế 漢 武 帝) phong làm công chúa. Hoàng đế muốn gả cô cho vua (Kunmi hoặc Kunmo) Liejiaomi (猎驕靡) của Ô Môn [Wusun], với ý định hoà thân với Ô Môn và phá vỡ liên minh của Hung Nô. Sau khi món quà gồm 1000 con ngựa từ Ô Môn được gửi đến triều đình nhà Hán, cô được cử đến Ô Môn cách đó 5000 dặm trong khu vực thung lũng Ili cùng với đoàn tùy tùng gồm 100 quan lại, hoạn quan, người hầu và xe ngựa. Sau khi kết hôn, cô được phong làm Hữu phu nhân, một vị trí cấp dưới của Tả phu nhân, người gốc Hung Nô
vua Liejiaomi đã cao tuổi, cô hiếm khi gặp và không thể giao tiếp với chồng. Hai năm sau khi cô kết hôn, vua Liejiaomi qua đời. Hầu hết những người du mục cổ đại đều có phong tục “hôn nhân Shouji / Thừa kế quả phụ (收继婚)" có nghĩa là một phong tục bắt buộc một góa phụ phải kết hôn với anh trai của người chồng đã khuất của cô ấy, v.v. Trong trường hợp của gia đình hoàng gia, đó là cần thiết phải kết hôn với vị vua tiếp theo. Xijun là Vương phi, sau khi nhà vua băng hà, cô ấy cần kết hôn với vị vua tiếp theo theo phong tục, và vị vua tiếp theo là cháu trai của chồng cô là Cenzou (岑陬)
【Tham khảo hiện vật】
Trung Quốc Tây Hán Bức tượng nữ được vẽ (thời kỳ đầu và giữa của Tây Hán)
dù Xijun phản đối việc tái hôn như vậy được coi là không đúng theo phong tục của người Hán và cầu xin Vũ đế (漢武帝) để cô ấy trở về Hán, Vũ đế (漢武帝) trả lời rằng cô ấy nên tuân theo vì liên minh với Ô Môn được cho là cần thiết để đánh bại Hung Nô (匈奴). Cô kết hôn hợp pháp với Cenzou, người đã trở thành vua sau khi Liejiaomi qua đời. Cô có một cô con gái với anh ta vào năm 102 trước Công nguyên, và qua đời vào năm sau. Cô qua đời ở tuổi 21 và không bao giờ trở lại đất nước của mình trong đời. Một công chúa khác tên là Công chúa Jieyou đã được gửi đến kết hôn với Cenzou (岑陬) sau khi cô qua đời
Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc Tượng sáp phục hồi phụ nữ thời Tây Hán
———–
bài thơ ghi công cho Xijun được ghi chép trong Hán thư [Hanshu]
【悲愁歌/ Bài ca bi thương 】
悲愁歌吾家嫁我兮天一方,
Gia đình tôi đưa tôi đến tận cùng thế giới
遠托異國兮烏孫王。
Xa xôi trong vùng đất lạ của vua Ô Tôn
穹廬為室兮旃為牆,
Một túp lều mái vòm là buồng của tôi, những bức tường của tôi
以肉為食兮酪為漿。
Thịt là thức ăn của tôi, sữa lên men là thức uống của tôi
居常土思兮心內傷,
Sống ở đây nhớ quê hương mà lòng đau đáu
願為黃鵠兮歸故鄉。
Ước gì được làm thiên nga vàng về quê cũ
———–
lịch sử hàng trăm năm, hoà thân [和親] hay hoà phiên [和蕃] đã trở thành một phương thức ngoại giao phổ biến. Vô số phụ nữ gánh trên vai sự tin tưởng nặng nề của đế quốc và mang danh xưng “Công chúa” một mình ra nước ngoài hoàn thành sứ mệnh không rõ đáp án. Số phận của họ buộc phải tuân theo dòng chảy của thời đại, đó là một tiếng thở dài

trận Bạch Đằng năm 200 trước công nguyên

năm 200 TCN, nhà Tây Hán xâm lược lãnh thổ Hung Nô và bị quân Hung Nô dưới trướng thiền vu Mặc Đốn vây hãm quân của Lưu Bang ở cao nguyên Bạch Đằng
cuộc vây hãm đã thoát nạn sau một tuần, khi triều đình Hán theo đề nghị của thừa tướng Trần Bình [Chen Ping ảnh dưới] gửi gián điệp đi hối lộ vợ của Mặc Đốn
sử gia René Grousset viết trong sách 'the empire of the steppes' rằng quân Hung Nô xâm lược Sơn Tây và vây hãm Thái Nguyên; Hán Cao Tổ phá vòng vây và đánh đuổi Hung Nô lên phía bắc, nhưng bị phong toả ở cao nguyên Bạch Đằng gần thành phố Đại Đồng viễn bắc Sơn Tây
Bối cảnh
kết thúc nội chiến, Lưu Bang nỗ lực củng cố tuyến phòng vệ miền bắc đã được Mông Điềm xây dựng trước ấy, trong khi Hung Nô đã chiếm được những căn cứ phía nam sa mạc Gobi
thiền vu Mặc Đốn dẫn liên quân các bộ lạc du mục, vượt biên giới vào Trung Quốc và vây hãm thành Mai [Mai fortress] của Hàn vương Tín trấn thủ, là họ hàng của Lưu Bang; tuyệt vọng, Hàn vương Tín [Xin of Hán] đầu hàng và phục vụ Mặc Đốn
Lưu Bang (ảnh trên) tập hợp 30 vạn quân và bắt đầu dẫn lên phía bắc nghênh chiến Hung Nô
thiền vu Mặc Đốn rút quân lên núi, tấn công ngang dọc, cướp bóc tài sản của người Hoa, dụ Hán Cao Tổ truy đuổi nhờ gây ấn tượng rằng Hung Nô chỉ cướp nhỏ lẻ; thực ra đang lùa quân Hán vào bẫy

Chiến lược
quân Hung Nô toàn bộ là kỵ binh và quen khí hậu lục địa lạnh lẽo phương bắc, mang găng tay và quần áo ấm; quân Hán là bộ binh, tuyển mộ dân thường và không quen giá lạnh miền núi cao; ngón tay của hàng nghìn cung thủ Hán đã lạnh cóng, và tỷ lệ lớn quân Hán mất khả năng chiến đấu
Mặc Đốn thoái lui kỵ binh, đánh lừa như thể Hung Nô tháo chạy khỏi quân Hán; Hán Cao Tổ thấy thế, có hai lựa chọn là hoặc là thả quân Hung Nô đi, hoặc là dẫn quân hạng nhẹ đuổi theo; và Lưu Bang chọn phương án hai
quân Hán bị tách đôi, Hán Cao Tổ dẫn đạo quân nhỏ nhanh truy đuổi Hung Nô

Chiến sự
quân Hung Nô bất ngờ dừng rút lui và quay lại tấn công, quân Hán bị bất ngờ và đã chống trả Hung Nô ở trước pháo đài Bạch Đằng, chịu tổn thất lớn
trận Bạch Đằng là lần đầu tiên những bộ lạc du mục đã sử dụng chiến thuật 'giả vờ rút lui' [feigned retreat] trong lịch sử
Hán Cao Tổ rút về thành Bạch Đằng [Baideng fortress] và bị Hung Nô bao vây; Mete [Mặc Đốn] chia quân làm 4 đạo [division] chặn tất cả các cổng
sử gia Chun-shu Chang chép rằng 40 vạn quân Hung Nô: con số không thể thực tế vì dân số du mục không thể đủ, và vì mỗi chiến binh sẽ cần ít nhất 2 ngựa và những ngựa ấy sẽ cần thả gặm cỏ xung quanh pháo đài trong suốt cuộc vây hãm, quân số Hung Nô sẽ bị hạn chế bởi thảo điền; theo đó, quân Hung Nô ước tính 2-4 vạn
Hoà ước
theo sử gia Chun-shu Chang, vợ của diệp hộ [yabghu] đã được quân Hán liên lạc và trao quà; nghe lời vợ, diệp hộ đã chấp nhận hoà bình
cũng có thể, Mặc Đốn biết được tiếp viện Hán sẽ đến và tù trưởng Hung Nô không muốn bị kẹp giữa; kỵ binh Hung Nô cũng chưa đủ sức xâm lược Trung Quốc
sau hoà ước, quân Hán đồng ý nộp thuế tơ lụa hằng năm, dưới danh nghĩa 'quà tặng', và cống nạp một công chúa rởm cho diệp hộ; sắc phong công chúa một nữ dân thường và mang đi hoà thân [heqin] với Hung Nô, để đỡ cống nạp những con gái thực sự của Hán Cao Tổ

Mặc Đốn Thiền Vu và bộ lạc du mục Hung Nô uy hiếp Trung Quốc

ngày 18 tháng 08 năm 2022
sau khi lật đổ người Nguyệt Chi, người Hung Nô thống trị đồng cỏ Đông Á giữa cao nguyên Mông Cổ
Hung Nô là tên gọi chung chỉ các bộ lạc du mục ở khu vực Trung Á thời kỳ cổ đại, địa bàn sống chủ yếu tại các khu vực thuộc miền nam Siberia, miền tây Mãn Châu và các tỉnh, khu tự trị ngày nay của Trung Quốc là Nội Mông, Cam Túc và Tân Cương
gốc dân Hung Nô, những gì chúng ta biết được chủ yếu lấy từ các tư liệu lịch sử bằng tiếng Hán. Sử ký của Tư Mã Thiên thì cho rằng người Hung Nô là các hậu duệ của con trai của vua Kiệt, vị vua cuối cùng của nhà Hạ, do những khác biệt và xung đột nội bộ nên đã di tản lên cư trú ở những vùng thảo nguyên phía bắc
thời Xuân Thu – Chiến Quốc, Hung Nô là những bộ lạc liên kết lỏng lẻo với nhau, dưới sự cai trị của các tộc trưởng gọi là thiền vu. Sau khi nhất thống Trung Nguyên, Tần Thủy Hoàng đã xây dựng Vạn Lý Trường Thành và cử các tướng lĩnh bắc phạt, đẩy lui các bộ lạc Hung Nô đến tận các vùng lãnh thổ xa xôi, sát biên giới với Nga hiện nay
hơn một thập kỷ, người Hung Nô không hề gây ra bất kỳ mối đe dọa nào đối với phương Nam. Nhưng điều này đã thực sự thay đổi khi các bộ lạc Hung Nô ở phương Bắc được thu về một mối dưới sự lãnh đạo của Mặc Đốn thiền vu

Thống lĩnh Hung Nô
năm 234 trước công nguyên, Mặc Đốn thiền vu [Modu Chanyu] sinh ra là con trưởng của thiền vu Đầu Mạn
thiền vu Đầu Mạn [Touman Chanyu] sủng ái một người vợ bé và con trai của người này, nên đã phế trưởng lập thứ bằng việc đưa Mặc Đốn đến làm con tin cho bộ tộc Nguyệt Chi
theo sử liệu Trung Quốc, Đầu Mạn đã phát động chiến tranh với bộ tộc Nguyệt Chi để trừ khử chính con trai của mình. Nhưng do đã dự cảm từ trước về một điều chẳng lành, Mặc Đốn đã tranh thủ vào đúng đêm Đầu Mạn tấn công vào lãnh thổ của Nguyệt Chi để đánh cắp một con ngựa và chạy về Hung Nô
Đầu Mạn Thiền Vu thấy Mặc Đốn đột nhiên trở về thì nóng ruột, nhưng ngoài mặt vẫn khen con trai mình dũng cảm và giao cho chỉ huy một đội 1 vạn kỵ binh
nắm binh lực trong tay, Mặc Đốn dùng kỷ luật thép để huấn luyện đội kỵ binh trở thành những chiến binh trung thành, sáng tạo ra một tấm lệnh bài gọi là “minh đích” và ra lệnh cho quân sĩ hễ chỉ “minh đích” vào đâu thì phải nhất loạt bắn tên vào đó, sai lệnh sẽ chém không tha
“Mặc Đốn lấy minh đích tự bắn con ngựa tốt của mình, tả hữu có kẻ không dám bắn, Mặc Đốn bèn chém kẻ không bắn ngựa tốt. Được mấy chốc, lại lấy minh đích tự bắn người vợ yêu của mình, tả hữu có vẻ sợ, không dám bắn, Mặc Đốn lại chém kẻ đó. Được mấy chốc, Mặc Đốn ra săn, lấy minh đích bắn con ngựa tốt của thiền vu, tả hữu đều bắn con ngựa đó.” - Tư Mã Thiên – Sử Ký
lần nọ, thiền vu Đầu Mạn rủ con trai đi săn bắn bên ngoài. Chớp cơ hội ngàn vàng để ra tay, Mặc Đốn mang theo thủ hạ bám theo sau, và chờ đúng thời cơ để ra lệnh “minh đích” bắn vào Đầu Mạn thiền vu
hạ thủ được cha mình, Mặc Đốn ngay lập tức giành lấy ngôi thiền vu, trở thành bá chủ Hung Nô thống lĩnh toàn bộ khu vực phía bắc rộng lớn

Chinh phạt thảo nguyên
hay tin Mặc Đốn lên ngôi, bộ tộc Đông Hồ muốn dò xét thực lực của Hung Nô, nên đã liên tục phái sứ giả sang bắt Mặc Đốn phải nộp nhiều cống phẩm quý như ngựa chạy ngàn dặm, đến cả các vợ bé của Mặc Đốn
một thời gian, Đông Hồ lại sai sứ đến xin được lấy một khoảng đất không người ở, rộng ngàn dặm ở giữa lãnh thổ Hung Nô. Có cớ động binh, Mặc Đốn tụ họp các bầy tôi và tuyên bố: “Đất là cái gốc của nước, sao lại cho nó!” và chính thức phát động chiến tranh
người Đông Hồ chủ quan coi nhẹ Mặc Đốn, không kịp sắm sửa binh mã. Đội quân thiện chiến của Hung Nô dễ dàng đại phá Đông Hồ, bắt được vô số người và gia súc đem về nước
Mặc Đốn tiếp tục đem quân chinh phạt và đánh bại các bộ tộc Nguyệt Chi, Lâu Phiền ở phía Nam, thu hồi lại hết phần lãnh thổ mà nhà Tần cưỡng chiếm trước kia; thậm chí đánh đến tận phần lãnh thổ phía nam sông Hoàng Hà, sát lãnh thổ người Hán, bấy giờ Hạng Vũ đang nội chiến Lưu Bang nên hoàn toàn bất lực trước sự tung hoành của quân Hung Nô
năm 203 trước công nguyên, Mặc Đốn đã chinh phạt hoặc thu phục toàn bộ các bộ lạc du mục ở phương Bắc, mở rộng lãnh thổ Hung Nô đến một mức độ lớn 'không thể tin nổi'

Chiến tranh Hán - Hung Nô
thời Chiến Quốc, văn minh Trung Quốc đã bắt đầu chiến sự với các bộ lạc du mục, sau này trở thành liên bang Hung Nô; nhiều vương triều đã xây dựng những trường thành phòng thủ chống quân cướp bóc đến từ đồng cỏ Mông Cổ
năm 215 TCN, tướng Mông Điềm đánh đuổi bộ lạc Hung Nô khỏi cao nguyên Ordos
năm 202 TCN lập nhà Tây Hán, Lưu Bang bị quân Hung Nô bẫy ở trận chiến Bạch Đằng
theo Dân Việt

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2024

Yên Thiếp Mộc Nhi và chiến tranh hai đô

ngày 16 tháng 10 năm 1328 thừa tướng Yên Thiếp Mộc Nhi [El Temur] bộ tộc Khâm Sát [Kipchak] nhà Nguyên đã đảo chính và đưa Đồ Thiếp Mộc Nhi [Tugh Temur ảnh dưới] đăng cơ hoàng đế Nguyên Văn Tông [Wenzong] ở Đại Đô [Khanbaliq]
Chiến tranh hai đô
biến cố Thiên Lý [Tianli] là cuộc chiến kế vị, giữa phe phục quốc [restore] ở Đại Đô và phe trung quân [loyal] ở Thượng Đô [Shangdu] sau cái chết của Dã Tôn Thiết Mộc Nhi [Yesun Temur] tức Nguyên Thái Thịnh Đế ở Thượng Đô (nay là Chính Lam, Nội Mông)
ngày 4 tháng 9 năm 1323 ngự sử [grand censor] Thiết Thất [Tegshi] và Đảo Thích Sa [Dawlat Shah] đã ám sát Thạc Đức Bát Thích [Shidibala] tức Nguyên Anh Tông [Yingzong] hay Cách Kiên Hãn [Gegeen] đang nghỉ ở Nanpo giữa đường đi từ cung điện mùa hè Thượng Đô trở về Đại Đô, và đã cho đón Dã Tôn Thiết Mộc Nhi về đăng cơ
tháng 8 năm 1328 Nguyên Thái Thịnh Đế băng hà ở Thượng Đô
tháng 9 năm 1328 ở Đại Đô, Yên Thiếp Mộc Nhi đã cho mời Đồ Thiếp Mộc Nhi, con thứ của Nguyên Vũ Tông (ảnh trên) và đang ở miền nam Trung Quốc, về làm vua; thay cho con trưởng Hoà Thế Lạt [Kusele] bấy giờ ở Trung Á
tháng 10 năm 1328 ở Thượng Đô, con trai A Tốc Cát Bát [Arigabag hoặc Ragibagh] của Thái Thịnh đã được sủng thần Hồi Giáo là Đảo Thích Sa phò tá làm Nguyên Thiên Thuận Đế [Tianshun]
phe phục quốc dưới trướng Yên Thiếp Mộc Nhi đã nắm Trung thư tỉnh (quan chế Tam tỉnh lục bộ) bao gồm các tỉnh Hồ Nam [Hunan], Chiết Giang [Jiangzhe], Giang Tây [Jiangxi] và Hồ Quảng [Huguang] trù phú; phe trung quân ở Thượng Đô chỉ nắm những Linh Bắc [Lingbei], Liêu Đông [Liaoyang], Thiểm Tây [Shaanxi], Tứ Xuyên [Sichuan] và Vân Nam [Yunnan] ở vùng sâu vùng xa
các vương gia và chức sắc cấp cao của Mông Cổ đóng ở Mãn Châu (bán đảo Liêu Đông [Liaodong]) và miền đông Mông Cổ đã tham dự vào cả hai phe trong biến cố Thiên Lý

Chiến sự
mới đầu, quân A Tốc Bát Ca đã xuyên phá Vạn Lý Trường Thành ở nhiều nơi và đánh đến ngoại ô Đại Đô
từ Mãn Châu và miền đông Mông Cổ, Bukha Temur và Orlug Temur, hậu duệ của anh em của Thiết Mộc Chân, đã bất ngờ tiến công phe trung quân; ngày 14 tháng 11 đã bao vây Thượng Đô, khi hầu hết phe trung quân đang ở tiền tuyến Vạn Lý Trường Thành
ngày 15 tháng 11 phe trung quân ở Thượng Đô đầu hàng, Đảo Thích Sa và đồng minh đã bị bắt làm tù binh và sau đó xử tử; A Tốc Bát Ca được báo cáo là mất tích
tháng 12 năm 1328 phe trung quân ở Sơn Tây [Shanxi] đầu hàng
tháng 1 năm 1329 phe trung quân ở Tứ Xuyên đã đầu hàng
đầu năm 1329 hoàng tử Tugel khởi nghĩa, phe phục quốc đã đưa quân đến vùng Pa fan để đàn áp; được thổ dân địa phương giúp đỡ, ví dụ những bộ lạc Lô Lô người Di [Yi] và những bộ lạc Hmong [Miaotze] ở vùng biên giới Vân Nam, Tugel đã thành công chống trả quân triều đình; quân Nguyên dưới trướng Buqa Temur thua trận đã xin triều đình cứu viện
cực chẳng đã, hoàng tử Yuntu Temur được lệnh điều động 2 vạn quân từ các tỉnh Chiết Giang, Giang Tây, Hà Nam [Henan] và Giang Bắc [Jiangbei], và dẫn quân từ Hồ Quảng đi chi viện Vân Nam
năm 1332 phe trung quân đã dừng nỗ lực phản loạn cuối cùng

Đồ Thiếp Mộc Nhi
ngày 26 tháng 2 năm 1329 Đồ Thiếp Mộc Nhi nhường ngôi cho Hoà Thế Lạt đăng cơ hoàng đế Nguyên Minh Tông, được hãn Eljigidey của Sát Hợp Đài Hãn Quốc hậu thuẫn
ngày 30 tháng 8 năm 1329 ăn tiệc với Đồ Thiếp Mộc Nhi, Minh Tông đã bị đầu độc chết; nghi phạm là Yên Thiếp Mộc Nhi (ảnh dưới) người đã thanh trừng những chức sắc phò-tá-Hoà-Thế-Lạt và mang quyền lực giao cho những lãnh chúa địa phương
ngày 8 tháng 9 năm 1329 Đồ Thiếp Mộc Nhi tiếp quản ngôi vị Nguyên Văn Tông đến ngày 2 tháng 9 năm 1332 thì mất

Đáp Nạp Thất Lý
năm 1333 tháng 8 âm lịch, con gái Đáp Nạp Thất Lý của Yên Thiếp Mộc Nhi được gả làm Trung cung Hoàng Hậu của Nguyên Huệ Tông (ảnh dưới) nhận Sách bảo
Đáp Nạp Thất Lý (ảnh dưới) hạ sinh một đứa con trai là Maha nhưng chết sớm vì bệnh sởi
vua Cao Ly tiến cống cung nữ Kỳ Thị [Túc Lương Hợp thị] (ảnh dưới) nhập cung, được Huệ Tông sủng ái; hoàng hậu ghen tuông đã thường xuyên đánh đập, lăng nhục không thương tiếc

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2024

Lý Đức Dụ (năm 787 - ngày 26 tháng 1 năm 850)

Tiểu sử
năm 787 Lý Đức Dụ sinh dưới triều Đường Đức Tông, ông nội Li Qiyun làm đến chức Đô ngự sử, cha Lý Cát Phù làm đến chức Thừa tướng dưới triều Đường Hiến Tông là cháu nội của Đức Tông
tương truyền Lý Đức Dụ thích đọc Hán thư và Tả truyện, nhưng không muốn ứng thí trong kỳ thi khoa cử; thời Trinh Nguyên (785-805) Lý Cát Phù bị đi đày, Lý Đức Dụ đi theo cha và không có ý theo đuổi nghiệp quan chức
triều Đường Hiến Tông, Lý Cát Phù thăng chức Thừa tướng; tương truyền rằng Lý Đức Dụ không muốn bị coi là con ông cháu cha, nên đã không làm cho Ngự Sử Đài hay một trong Tam công; thay vào đó, ông làm nhân viên của nhiều thống đốc khu vực
năm 816 sau khi thừa tướng Zhang Hongjing từ chức để sang làm tiết độ sứ của phiên trấn Hà Đông [Hedong] (thủ phủ ở nơi nay là Thái Nguyên, Sơn Tây), Zhang Hongjing mời Lý Đức Dụ về làm thư ký
năm 819 Zhang Hongjing trở về Trường An diện kiến hoàng đế và sau đó ở lại kinh đô, Lý Đức Dụ được phong chức Ngự sử và tước hiệu Jiancha Yushi

Đường Mục Tông
năm 820 Đường Hiến Tông bị hoạn quan giết hại, Đường Mục Tông