Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Máy tính Tandem

cuối thập niên 1970 Tandem Computers trình làng những chiếc máy tính, phục vụ các ngân hàng, sở giao dịch chứng khoán, các ngành công nghiệp...

Máy tính văn phòng
đầu thập niên 1970 Jim Treybig là giám đốc bán hàng ở tập đoàn Hewlett-Packard
sinh ra ở Texas, Treybig vào làm ở HP sau khi Texas Instruments giúp hãng này chào bán HP 3000
cấp trên của Jim Treybig ở HP là nhà đầu tư Tom Perkins
đối thủ của HP bấy giờ là IBM, một tập đoàn lớn, tích hợp dọc từ-trên-xuống, nguồn lực khủng, ràng-buộc phần mềm, lợi thế quy mô, lực lượng bán hàng [sales force]
đầu thập niên 1970 kinh tế khó khăn: giá năng lượng đắt đỏ, lạm phát, lãi suất 21%
năm 1974 những General Electric, NCR, RCA và Siemens đều đã bị đánh bật khỏi thị trường mainframe; còn lại IBM và những doanh nghiệp hoạt động ở thị trường ngách, ví dụ Digital Equipment, DEC phát triển những sản phẩm máy tính nhỏ VAX

Thời gian thực
thập niên 1960 nhân viên văn phòng làm việc xử lý vào ban ngày, máy tính sẽ xử lý những quy trình hậu trường theo những tác vụ "lố" [batch job] chạy ban đêm hoặc trong giờ nghỉ
ví dụ những tác vụ quan trọng như "ghi sổ" giao dịch trong ngày, hợp nhất những tài khoản khách hàng...
trong bài lịch sử lời nói ở trường đại học Stanford, Treybig nhớ lại đã thấy những dấu hiệu "vấn đề khó chịu" xuất hiện ở những hệ thống máy tính của các khách sạn Holiday Inn
đội ngũ Treybig tại HP đã ký được hợp đồng 50 máy tính cho khách sạn Holiday Inn xử lý vấn đề "ăn xong phắn" [dine and dash] những khách hàng đến nhận phòng chỉ để ăn sáng tại khách sạn rồi lập tức trả phòng
đơn đặt chỗ ăn sáng sẽ được ghi vào tài khoản của khách hàng vào ban đêm, thông qua một tác vụ xử lý "lố" [batch job] cho nên khách sạn đã không biết để tính tiền bữa ăn cho khách hàng
một vấn đề tương tự đã xảy ra với ATM
nửa đầu thập niên 1970 cây ATM được lắp bên trong hoặc bên ngoài một chi nhánh ngân hàng và hoạt động trong một khoảng thời gian giới hạn, để các ngân hàng tạo sự riêng biệt [differentiate] và khiến các khách hàng đi qua cửa để ngân hàng có thể "bán hàng gia tăng" những sản phẩm khác, ví dụ vay
một nửa số cây ATM "ngoại tuyến" tức là chạy cục bộ và không kết nối với sổ cái trung tâm
Traybig nhớ lại, tại thành phố Phoenix, kẻ gian đã đi đến nhiều cây ATM trong đêm và rút 10 USD từ mỗi cây; giao dịch 10 USD chỉ được lưu 'cục bộ' tại cây ATM và phải sau này mới được gửi dữ liệu đến sổ cái trung tâm, kẻ gian có thể rút quá số tiền có trong tài khoản của một người
vấn đề đặt ra là làm thế nào để xử lý và gửi dữ liệu giao dịch đến sổ cái trong thời gian thực, không cần con người can thiệp

Kình lạc
khi một máy tính thực hiện những tác vụ "lố" [batch], nếu hỏng hóc, người dùng chỉ cần khởi động lại hệ thống
cách này hiệu quả, nhưng lãng phí thời gian: người dùng nhận thấy hư hỏng, chụp lại [snapshot] mã lỗi, khởi động lại... mất đâu đó 1-2 giờ
hầu hết các hệ thống có 99.6% tính khả dụng, tức là sẽ hư hỏng 1 lần trong mỗi 1-2 tuần
cuối năm 1968 các sở giao dịch chứng khoán đã thường xuyên đóng cửa vào Thứ Tư chỉ để xử lý công việc giấy tờ
kể cả nếu những hư hỏng máy tính có thể được sửa chữa và hồi phục nhanh, người ta vẫn cần đảm bảo rằng không dữ liệu nào bị sai lệch

Dự phòng
Treybig nhớ lại: "năm 1973 có 2 hệ thống IBM trên một tờ báo và người ta sẽ bấm lỗ băng giấy lưu những bài báo cho tờ báo, rồi sẽ nhập nó vào một máy tính, rồi sẽ thiết lập kiểu"
"nếu máy tính hỏng, họ sẽ lấy băng giấy... đem đến một máy tính khác và nhập nó vào. Ấy chính là một hệ thống khả-năng-chịu-lỗi"
các doanh nghiệp khác đã thử tuỷ chỉnh, bằng cách thêm nhiều bộ xử lý, vào một hệ thống đơn nhân: nếu một bộ xử lý bị hỏng, hệ thống có thể hoán-đổi-nóng sang một bộ xử lý khác đang ở trạng thái chờ [standby]
vẫn là thiết kế đơn nhân, sau khi được tuỳ chỉnh, vẫn còn những điểm hư hỏng phần cứng duy nhất [single hardware point of failure] có thể làm sụp hệ thống
ví dụ bus chuyển I/O [I/O bus switch] là đường truyền tín hiệu điện kết nối vi xử lý với các thiết bị ngoại vi
hoặc bộ điều khiển I/O phiên dịch lệnh của vi xử lý
hoặc mô đun bộ nhớ RAM
ngân hàng Hoa Kỳ uỷ thác một doanh nghiệp việc sản xuất một "cụm" máy tính nhỏ để xử lý ATM, tức là nhiều phần mềm đặt-làm-riêng đắt đỏ

Chìa khoá trao tay
Treybig đưa lên ban lãnh đạo HP ý tưởng một máy tính được-phát-triển-từ-con-số-0 có thể hoạt động liên tục
nguồn thu nhập chính [bread and butter] của HP bấy giờ là những công cụ khoa học
năm 1973 Tom Perkins rời HP và khởi nghiệp doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm Kleiner Perkins cùng với đồng sáng lập Eugene Kleiner của Fairchild Semiconductor
mới đầu Tom Perkins đầu tư 50 000 USD cho ý tưởng của Treybig đồng thời đề nghị Treybig làm đối tác tại Kleiner Perkins giúp lập kế hoạch kinh doanh và soạn bài giới thiệu, thậm chí Tom Perkins dẫn Treybig đến Brooks Brothers mua tặng bộ áo vest
năm 1974 thành lập Tandem Computers, sau đó đã gọi được 3 triệu USD vốn nữa từ những nhà đầu tư Kleiner và người khác, và săn trộm nhiều nhân sự HP sang làm
đầu tháng 12 năm 1975 Tandem công bố Tandem/16 NonStop, sau gọi ngắn là NonStop I
Treybig so sánh triết lý của hệ thống với một máy bay: "một máy bay có thể có 1 động cơ và bay với tốc độ 600 dặm 1 giờ. Hoặc nó có thể có 2 động cơ và bay 600 dặm 1 giờ, nhưng nếu hư hỏng 1 động cơ, nó vẫn giữ tốc độ 300 dặm 1 giờ"
"ý tưởng là có những mô đun sẽ hoạt động cùng nhau để thực thi khối lượng công việc, và anh phải mua một máy tính phục vụ khối lượng công việc cao nhất [peak] để khi nó hư hỏng, hầu hết thời gian, nó sẽ không bị chậm lại"
NonStop I bao gồm 2-16 mô-đun bộ xử lý. mỗi mô-đun trang bị một bộ xử lý silic, bộ nhớ, I/0 và một bản sao của hệ điều hành... tất cả hoạt động độc lập với nhau, có nguồn điện và pin dự phòng riêng
những bộ xử lý này được kết nối qua 2 bus liên-bộ-xử-lý độc lập, gọi là DynaBus

Phần mềm Tandem
NonStop chạy hệ điều hành Tandem Transactional Operating System, sau đổi tên là Guardian
Tandem tiếp cận phần mềm NonStop dựa trên một số khái niệm "lõi": chuyền tin nhắn [message-passing], hỏng nhanh [failing fast], những cặp xử lý [process pair]
chuyền-tin-nhắn: vì bộ nhớ chung có thể hỏng, các mô-dun liên lạc với nhau bằng những tin nhắn 16-bit gửi qua DynaBus
hỏng nhanh: khi một mô-dun nhận thấy bản thân hỏng, nó tự chạy tác vụ shut down và chờ đến khi được tải lại [reload] giống như những tế bào sinh vật làm khi chúng đột biến
cặp xử lý: tất cả chương trình đều được chạy bởi 2 mô-đun bộ xử lý, 1 bộ xử lý chính và 1 bộ xử lý dự phòng, hoạt động không đồng bộ [asynchronous]
trước những sự kiện nhất định, mô-dun chính thường xuyên "lưu" [checkpoint] thông tin trạng thái của nó vào mô-đun dự phòng, bằng cách gửi tin nhắn
lập trình viên sẽ lập trình mô-đun khi nào gửi thông tin trạng thái "lưu"
mỗi giây, các mô-đun quét trạng thái của chính nó: nếu ổn, mô-đun gửi một tin nhắn đặc biệt qua 2 DynaBus thông báo rằng chúng "còn sống"; thậm chí, mô-dun tự gửi tin cho chính mình để xem xem bus có đang hoạt động hay không
mỗi mô-đun bộ xử lý sẽ xem một tin nhắn "tôi còn sống" được gửi từ mô-đun hàng xóm: nếu không nhận được tin nhắn ấy từ 1 mô-đun trong 2 chu kỳ, mô-đun ấy sẽ bị cho là đã hỏng và sẽ tự shut down
thỉnh thoảng, tin nhắn "tôi còn sống" được gửi đến muộn, có thể vì lỗi hoặc mất điện, rủi ro là một số mô-đun bộ xử lý sẽ cho rằng hư hỏng, trong khi những mô-đun khác không... có thể dẫn đến não-bị-chia-đôi và dữ liệu bị sai lệch
Tandem tạo ra thuật toán "regroup" tập hợp lại các mô-đun bộ xử lý và bỏ phiếu xem xem liệu mô-đun đã thực sự "quay lại" làm việc chưa
sau 2 lượt "regroup", các mô-đun đi đến thống nhất
cách tiếp cận xoay-quanh-phần-mềm này đã gây ra vấn đề cho các nhà cung cấp ứng dụng: một là tìm hiểu cách thức "lưu" ứng dụng, đảm bảo node chính thường xuyên cập nhật node dự phòng
các lập trình viên ứng dụng đã phải học ngôn ngữ độc quyền Tandem như Tandem Application Language cho những thứ cấp-hệ-thống và Screen COBOL cho những thứ cấp-ứng-dụng

Automated Teller Machine
tháng 12 năm 1975 tờ Business Week đăng bài luận về tầm quan trọng và cơ hội thị trường của những máy tính "an toàn khi lỗi"
bấy giờ Tandem/16 chưa đi vào sản xuất hàng loạt, bài báo Business Week tập trung vào Treybig, các nhà đầu tư và đội ngũ nhân sự HP
tháng 5 năm 1976 Citibank nhận đơn hàng Tandem đầu tiên, nhưng Treybig nói rằng Citibank đã không bao giờ thực sự sử dụng NonStop, rằng Citibank chỉ mua máy để cập nhật xu hướng công nghệ
nửa cuối thập niên 1970 ATM giúp các ngân hàng trong và ngoài Hoa Kỳ cung cấp dịch vụ mà không cần thuê lao động, thời điểm lạm phát chi phí lao động
Citibank và Chase Manhattan tích cực quảng bá phổ cập ATM, rồi những trận bão tuyết đã khiến các ngân hàng đóng cửa, buộc khách phải rút tiền ATM
khả năng chạy liên tục 24/7 của những máy NonStop cũng giúp khách dần dần tin tưởng cây ATM sẽ không nuốt thẻ giữa chừng
năm 1978 Hoa Kỳ có 10 vạn ATM
năm 1990 Hoa Kỳ có 8 vạn ATM tạo điều kiện 450 triệu giao dịch ghi nợ mỗi tháng
năm 1977 Tandem đạt 7.7 triệu USD doanh thu, tháng 12 phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, Tandem là 1 trong 2 thương vụ thành công đầu tiên của quỹ mạo hiểm Kleiner Perkins, bên cạnh doanh nghiệp công nghệ sinh học Genentech

Chuyển khoản
kết nối với một sổ cái trung tâm, cây ATM không cần đặt ở chi nhánh ngân hàng nữa, có thể để ở trạm xe lửa, tạp hoá, sân bay... các ngân hàng nhận thấy rằng có thể chia sẻ mạng lưới ATM và chia sẻ chi phí lắp đặt
đầu thập niên 1980 xuất hiện những mạng ATM vùng, ví dụ Yanke24 ở tiểu bang New England, NYCE ở tiểu bang New York
năm 1985 toà án Hoa Kỳ phán rằng ATM không phải chi nhánh ngân hàng, cho phép mạng mở rộng xuyên biên giới tiểu bang, trở thành những mạng liên bang STAR, PULSE, Cirrus...
hậu trường ETF [electronic funds transfer], mạng sử dụng những công tắc chuyển mạch [switch] định tuyến và thông qua những lệnh chuyển tiền
là bộ chia mạng giao dịch của mạng ATM, bộ chuyển mạch [switch] không được hỏng, phục vụ khách rút tiền, không được xảy ra hiện tượng ATM nuốt thẻ
Cirrus sử dụng hệ thống NonStop II, mạng Visa và mạng Mastercard cũng sử dụng Tandem và mang NonStop đến Châu Á, Nam Mỹ và Châu Âu
năm 1981 kho bạc Hoa Kỳ sử dụng NonStop cho mạng EFT có thể chuyển khoản điện tử 100 tỷ USD
Malaysia có một nhà phân phối riêng Tandem phục vụ ngân hàng và các tổ chức tài chính Đông Nam Á
năm 1982 Tandem đạt 312 triệu USD doanh thu

Khách hàng doanh nghiệp
Tandem trả thưởng cho nhân viên bằng quyền chọn mua cổ phiếu (ESOP) [employee stock ownership plan]
giữa năm 1982, 24 nhân viên Tandem trở thành triệu phú đô la, 100 nhân viên khác sở hữu cổ phiếu trị giá hơn nửa triệu USD
nhân viên Tandem được hưởng giờ làm việc linh hoạt, những chính sách "cửa mở", nghỉ phép dài hạn 4 năm 1 lần
mỗi chi nhánh Tandem tổ chức hội họp uống bia ăn bỏng ngô vào chiều Thứ 6 hằng tuần, trụ sở Cupertino có bể bơi
cuối thập niên 1970 đầu 1980 tỷ lệ thay đổi nhân viên Tandem chỉ 8%, bằng một phần tư tỷ lệ trung bình các doanh nghiệp công nghệ Bắc Mỹ

Stratus
năm 1980 một cựu nhân viên Tandem sáng lập Stratus chào bán giải pháp chỉ-có-phần-cứng Lockstep
với Lockstep, những cặp vi xử lý Motorola bán ngoài chợ sẽ chạy cùng 1 tác vụ: kết quả sẽ được đánh giá, nếu có khác biệt, cặp ấy sẽ bị shut down cho một cặp khác tiếp nhận công việc
máy Stratus giá thành 200 000 USD, rẻ hơn máy Tandem giá thành nhiều triệu USD
máy Stratus đạt được khả-năng-chịu-lỗi mà không cần áp dụng những ý tưởng phần mềm phức tạp Tandem: ví dụ checkpoint
năm 1982 giám đốc kỹ thuật sản phẩm Nicholas J.Bologna của Stratus trả lời tờ báo New York Times: "nhiều năm Tandum tuyên bố 6-năm đi trước ở lĩnh vực này nhờ vào phần mềm của hãng... chúng tôi nhảy cóc khoảng cách ấy bằng cách không cần phần mềm"
kỹ sư phần mềm Jim Gray của Tandem phản ứng rằng Lockstep xử lý được những hư hỏng phần cứng, nhưng không làm gì được những hư hỏng phần mềm... 2 vi xử lý sẽ chạy bug giống nhau
Tandem điều chỉnh cách tiếp cận kỹ thuật, Gray bỏ công việc "lưu" [checkpoint] thủ công, nhận thấy việc này làm khó các lập trình viên
năm 1982 doanh thu Tandem giảm 50%
năm 1983 doanh thu Tandem giảm 34%
năm 1984 doanh thu Tandem giảm 27%
tháng 5 năm 1984 Tandem công bố, lợi nhuận sẽ giảm 70% so với năm ngoái, giá cổ phiếu Tandem lập tức giảm 25%
tháng 10 năm 1984 cơ quan quản lý chứng khoán Hoa Kỳ cáo buộc Tandem thổi phồng lãi, bằng cách "nhận vơ" một số đơn hàng; vụ kiện đã được giàn xếp nhẹ nhàng
Treybig tăng cường họp nội bộ, bắt các giám đốc chịu trách nhiệm, ban hành thêm những lệnh trực tiếp, thay vì đi đến thống nhất
một nhóm kiểm toán đã được tách-ra công ty riêng, lương bị đóng băng, các quy trình sản xuất đã được cải tiến, chi phí bị cắt giảm
Treybig ký hợp đồng đối tác với Motorola để giảm chi phí R&D sản phẩm mới, ví dụ chip Tandem VLX trang bị mainframe bình dân NonStop EXT bày bán năm 1986, cùng những khách hàng mới như Texaco, GTE Corporation và Ban tư lệnh Hậu cần Không quân Hoa Kỳ
năm 1986 biên lãi gộp Tandem tăng 68%, lãi tăng 148%

Phần cứng chạy được là tốt rồi
chủ tịch William Foster giải thích: cuối thập niên 1970 phần cứng máy tính đắt hơn phần mềm, Tandem có thể bán cách tiếp cận xoay-quanh-phần-mềm cho một giải pháp khả-năng-chịu-lỗi
phần cứng đã rẻ hơn và đáng tin cậy hơn, phần mềm đã đắt hơn, lương lập trình viên đã tăng
lạm phát phần mềm, các doanh nghiệp đã muốn port ứng dụng, từ phần cứng này sang phần cứng khác; ứng dụng được phát triển trên những nền tảng mở, ví dụ UNIX, để dễ chuyển sang phần cứng mới
vấn đề là những giải pháp Tandem đều là độc quyền: nếu không có nhu cầu lớn, chẳng ai mua phần cứng Tandem độc quyền và phát triển trên hệ điều hành Guardian độc quyền
năm 1987 Tandem mất hợp đồng 1 tỷ USD phát triển hệ thống thông tin y tế tích hợp [Composite Health Care System] là hệ thống IT phi tập trung của Bộ Cựu chiến binh Hoa Kỳ [Veterans Administration] vào tay SAIC [Science Applications International Corporation] vì VA muốn phát triển trên những tiêu chuẩn mở UNIX hoặc MUMPS

Mở stack độc quyền
năm 1987 Treybig trả lời phỏng vấn: "tôi từng không thích 'thị trường ngách'... nhưng tôi không nghĩ nó tiêu cực. Chúng tôi đang chọn thị trường ngách. Bằng cách chọn chiến trường và giành chiến thắng, chúng tôi có thể trở thành một doanh nghiệp lời lãi"
Tandem ký hợp đồng đối tác, gia nhập nhiều chuỗi cung ứng "dọc" và đa dạng hoá sản phẩm khỏi tài chính ngân hàng, nhắm đến khách hàng chính phủ, viễn thông, bán lẻ và vận tải
cuối thập niên 1980 hơn 24 sở giao dịch chứng khoán - sàn phái sinh Chicago, sàn điện tử NASDAQ, sở Hồng Kong, sở chứng khoán New Zealand - chọn Tandem cho nhu cầu giao dịch
năm 1988 Tandem chi 280 triệu USD mua doanh nghiệp Ungermann-Bass với hi vọng tận dụng chuyên môn mạng LAN của Ungermann-Bass để mở rộng theo chiều ngang
năm 1987 vẫn cuộc phỏng vấn trên, Treybig thừa nhận rằng Tandem có chút cô lập và tập-trung-quá [over-index] vào những khách hàng tổ chức lớn
"chúng tôi không hiệu quả với những tổ chức thứ 3. Chúng tôi không phát triển sản phẩm cho phân khúc thấp hơn, ấy là một sai lầm chiến lược"
Tandem trình làng loạt máy trạm Dynamite chạy hệ điều hành MS-DOS nhưng không tương thích hệ sinh thái IBM cho nên thất bại
1 năm sau đó Tandem thay thế Dynamite bằng một máy trạm tương thích máy tính cá nhân AT
ngày 21 tháng 4 năm 1987 Tandem chi nhánh Anh trình làng NonStop CLX và chiếc LXN, trong đó NonStop CLX bán với giá 57000 USD là sản phẩm rẻ nhất loạt sản phẩm Tandem
trình làng CLX sau khi Tandem nhận thấy các ngân hàng lớn sẵn lòng mua mainframe NonStop cho các trụ sở, nhưng ngần ngừ mua cho các văn phòng khu vực
NonStop CLX lần đầu tiên trang bị chip CMOS, tự Tandem thiết kế và được đúc [fab] trên công nghệ VLSI
chiếc LXN là máy Tandem đầu tiên chạy hệ sinh thái UNIX trong khi còn lại vẫn chạy hệ điều hành Guardian

Cơ sở dữ liệu
năm 1987 Tandem trình làng NonStop SQL thay thế phần mềm cơ sở dữ liệu Encompass cũ
NonStop SQL nổi tiếng với khả năng túc trực hoạt động và khả năng mở rộng tuyến tính, vẫn được sử dụng ngày nay ở một số ứng dụng tài chính
tháng 5 năm 1989 Tandem đánh bại IBM trong vụ đấu thầu trực-diện cho một hợp đồng lớn cho California DMV sau khi NonStop SQL đánh bại DB2 ở 5 trong số 7 tiêu chí kỹ thuật, trong khi Tandem bỏ thầu với giá chưa đến 1 nửa IBM

Cyclone
tháng 10 năm 1989 Tandem trình làng NonStop Cyclone cạnh tranh mainframe IBM
yếu tố khác biệt của Cyclone là kiến trúc xử lý siêu vô hướng [superscalar] không cần tăng xung nhịp, trong khi vẫn giữ được khả-năng-chịu-lỗi danh tiếng của NonStop và thêm những công nghệ mới vào đó
những dự phòng RAM "khủng" đã được lắp vào những bo mạch chủ, nâng cấp những dây nối trong [interconnect] DynaBus từ dây đồng lên dây cáp quang, tủ máy [cabinet] có nguồn điện dự phòng riêng
tủ máy [cabinet] được thiết kế cẩn thận để tối thiểu dây cáp để hoán-đổi-nóng dễ dàng hơn khi thay thế
khán giả đã nhớ rằng Cyclone đồ sộ và ấn tượng, với những tủ máy [cabinet] đen và những quạt gió ồn ào, được bán với mức giá bằng 1 phần 3 IBM
trước đấy, hệ thống Tandem chỉ thu thập dữ liệu; với Cyclone, hãng muốn mọi người biết rằng hãng có phần cứng "Sắt Lớn" và phần mềm cơ sở dữ liệu, có thể thực thi các tác vụ lên tất cả dữ liệu
ngày 16 tháng 10 năm 1989 nhà phân tích Jeffrey Beeler của DataQuest trả lời phỏng vấn ComputerWorld: "Tandem đi vào giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc cách mạng doanh nghiệp của hãng. Thay vì yêu cầu người dùng trao cho hãng những giao dịch mà trước đấy chạy trên IBM, họ nói 'cứ đưa hết cho chúng tôi'."
hợp đồng California DMV trở thành một thảm hoạ 49 triệu USD kéo dài 7 năm, 4 nhân viên DMV bị xử phạt tội gian lận, những máy mainframe Cyclone trị giá 18 triệu USD đã bị bán thanh lý ở mức dưới 10% giá mua ban đầu

Phổ thông hoá
năm 1989 một khách hàng điện thoại, tích luỹ 100 triệu USD doanh thu, có lẽ là AT&T, nói Tandem chuyển sang UNIX hoặc sẽ bỏ đi
trước đấy Tandum có trình làng một sản phẩm UNIX nhỏ, các giám đốc Tandem nhận thấy rằng hệ sinh thái Guardian là thứ giữ chân khách mua phần cứng Tandem
Treybig nói: "mở là chết" - hàm ý rằng nếu Tandem chuyển sang UNIX mã nguồn mở và viết lại [port] ứng dụng sang UNIX, khách hàng sẽ chạy sang bất cứ nhà cung cấp tương-thích-UNIX nào chào thầu rẻ nhất
đối phó lời doạ dẫm của khách, Tandem thêm một đơn vị lưu kho SKU bình dân [stock keeping unit] vào danh mục sản phẩm, chứ không chuyển đổi toàn-diện [full-throated]
tháng 3 năm 1989 Tandem tuyên bố Integrity S2 là mainframe UNIX khả-năng-chịu-lỗi đầu tiên, trang bị chip RISC của MIPS Technologies và chạy hệ điều hành System V UNIX
Integrity S2 sử dụng những chip bán ngoài chợ [off-the-shelf], tài liệu kỹ thuật Integrity S2 liệt kê những cải tiến, ví dụ, ý tưởng "thời gian ảo" [virtual time] đồng bộ 3 CPU không-lockstep dựa vào những nhịp đếm lệnh [instruction count] thay vì những xung nhịp
sớm sau khi Integrity S2 được trình làng, Treybig nói: "nhiều doanh nghiệp đã cố phát triển hệ thống túc-trực với UNIX nhưng không thành. Chúng tôi đã làm được"
tháng 1 năm 1990 mở bán Integrity S2 hấp dẫn những doanh nghiệp viễn thông, AT&T ký hợp đồng đối tác với Tandem và quảng cáo mainframe của hãng cho nhiều đối tác chính phủ và công nghệ
cuối tháng 10 năm 1989 Tandem công bố tăng trưởng 24% doanh thu lên đến 1.6 tỷ USD, lãi tăng đến 119 triệu USD
từ tháng 3 năm 1989 đến tháng 1 năm 1990 cổ phiếu Tandem tăng 40% giá bán
Treybig trả lời tờ SF Chronicle: "tôi cảm thấy nhẹ nhõm nhất trong 8 năm qua"

Mainframe thoái trào
tháng 2 năm 1990 ngân hàng đầu tư Drexel Burnham Lambert của vua trái phiếu rác Mike Milken công bố phá sản
thị trường chủ chốt của Tandem không thể biện minh việc chi tiêu 2 triệu USD mua mainframe nữa, trong khi DEC và Stratus, thậm chí IBM, thi nhau giảm giá
tháng 4 năm 1990 Tandem công bố giảm lãi so với quý trước, cổ phiếu Tandem lập tức giảm 17%
tháng 8 năm 1990 chiến tranh Vùng Vịnh nổ ra khi Iraq đánh Kuwait, giá dầu tăng vọt
tháng 9 năm 1990 kết thúc năm tài khoá công ty, giảm đốc Tandem kỳ vọng một năm tăng trưởng 0, lãi giảm và lần đầu tiên sa thải nhân sự kể từ năm 1974
đầu tháng 9 năm 1990 Treybig nói: "có thể nói rằng Vương quốc Anh là thảm hoạ, và ở mức độ nào đó thì Đông Nam Hoa Kỳ cũng thế"
mặc dù Hoa Kỳ hồi phục kinh tế sau 1 năm, tỷ lệ việc làm đã không hồi phục nhanh bằng, có lẽ vì hoạt động xây dựng trì trệ, thị trường bất động sản yếu ớt và làn sóng sa thải nhân lực quốc phòng
năm 1990-1991 Tandem tăng trưởng 1.9 tỷ USD, các khách hàng đã chuyển sang mua những hệ thống UNIX phổ thông của HP và DEC

Himalaya
năm 1991 Tandem hoãn Himalaya kế nhiệm Cyclone đến cuối năm 1993 trong khi các khách hàng lục đục bỏ đi, bao gồm Wells Fargo trụ sở San Francisco
Himalaya được chấm điểm nhanh gấp đôi Cyclone
phần mềm NonStop Kernel của Himalaya hỗ trợ hệ điều hành Guardian và những ứng dụng UNIX môi-trường-POSIX
không hoàn toàn viết lại [port] sang UNIX, Tandem cho rằng khả năng chạy ứng dụng trên cả 2 hệ sinh thái sẽ xoa dịu khách hàng
nhưng Treybig quyết định "vắt sữa" bò Cyclone cũ, trong khi giữ im lặng về việc phát triển "bò" mới Himalaya từ năm 1991 đến năm 1993 khiến các khách hàng thấy Tandem không làm gì hết ở mặt trận sản phẩm, trong khi Tandem sa thải 900 nhân sự
giữa năm 1993 họp với doanh nghiệp phân tích META Group, Treybig nhấn mạnh rằng hãng đã có những sai lầm nghiêm trọng, rằng 2 ngân hàng Luân Đôn sẵn sàng bỏ đi
cho nên, giữa năm 1993 Treybig công bố Himalaya, gọi đây là Tendam hướng đến những kiến trúc "máy khách - máy chủ" trong đó NonStop tạo điều kiện những dịch vụ thư điện tử, chia sẻ tệp... trực tuyến
hiệu năng Himalaya gấp 2 lần Cyclone trong khi giá bán chỉ bằng 1/3 đến 1/6, nhưng Himalaya chưa được bán, cho nên doanh số Cyclone sụp đổ
tháng 7 năm 1993 Tandem báo lỗ quý 550 triệu USD trong đó 450 triệu USD xoá-sổ và chi phí liên quan đến việc đóng cửa nhà máy, hợp nhất và sa thải 1800 nhân viên, tương đương 15% nhân sự
Treybig phát biểu rằng ông đã cố gắng trì hoãn, nhưng: "tuy nhiên, chúng tôi biết rằng việc trở thành một nhà cung cấp bình dân sẽ cần áp dụng một mô hình doanh nghiệp mới, nếu chúng tôi muốn đạt những mục tiêu lợi nhuận... việc này không chỉ cần cắt giảm chi phí; nó cần tái-thiết-kế việc kinh doanh, thay đổi văn hoá, và tiếp tục giảm cơ cấu chi phí"
quý 3 năm 1993 bán được 500 Himalaya, gấp đôi doanh số 2 quý trước cộng lại, hấp dẫn khách tài chính ngân hàng, nhờ khả năng kết nối cụm [cluster]

Lấy con người làm trọng tâm
kỷ nguyên mới của phần cứng phổ thông, hệ thống mở và những cụm phân phối
tháng 10 năm 1995 sau một quý tài khoá thất bại nữa, Tandem công bố thay đổi lãnh đạo, và Treybig từ chức
một tháng sau, Tandem chỉ định giám đốc bán hàng Roel Pieper đứng đầu công ty con UB Networks làm CEO; công ty con UB Networks là Ungermann-Bass cũ và đã được Roel Pieper vực dậy
Roel Pieper hướng Tandem trở thành công ty phần mềm, bằng cách đưa công nghệ độc quyền Tandem rời bỏ Guardian và chia ra càng nhiều "tay" càng tốt
năm 1996 Roel Pieper nói: "công ty ở một vị thế: công nghệ giàu có, nhưng có thể là, hình ảnh nghèo nàn"
những công nghệ Tandem gồm có một đường dẫn ServerNet thay thế bus liên-bộ-xử-lý DynaBus trước đó độc quyền cho hệ điều hành Guardian
Roel Pieper chia sẻ ServerNet cho hãng máy tính cá nhân Compaq là một phần của chiến lược nhảy vào thị trường máy chủ Windows NT và đưa ServerNet trở thành tiêu chuẩn thương mại
tháng 5 năm 1996 Tandem ký hợp đồng đối tác Microsoft phát triển hệ điều hành máy chủ NT
Microsoft trả 30 triệu USD mua khả-năng-chịu-lỗi Tandem để tích hợp vào NT, trong khi Tandem viết lại [port] NonStop SQP sang NT và bán những máy chủ Windows NT NonStop trang bị chip Intel
bấy giờ 70% doanh thu Tandem vẫn đến từ những hệ thống độc quyền, việc "viết lại" [port] sang một nền tảng khác là một rủi ro cho công ty
Tandem trấn an những khách hàng cũ rằng hãng vẫn hỗ trợ Himalaya trong khi có những "lộ trình" di chuyển sang NT
một Phó chủ tịch Tandem giải thích rằng "cách cũ" đưa công ty vào thế kẹt: "trước đây, chiến lược của chúng tôi là cải tiến Himalaya cho rẻ đi... nhưng nền tảng ấy chỉ có thể rẻ đến thế thôi"
"giờ [Pieper đã] đưa Tandem ra khỏi thế kẹt. Chúng tôi cho rằng có thể vừa cạnh tranh vừa hợp tác với một đối thủ cạnh tranh"
bên ngoài, một nhà phân tích cho rằng Tandem đang bán viên ngọc vương miện
nhà phân tích khác nói Tandem cần "cú sốc" này để nghĩ như một doanh nghiệp phần mềm

Mua bán sáp nhập
tháng 6 năm 1997 Compaq mua lại Tandem với giá 3 tỷ USD bằng cổ phiếu, định giá "cao cấp" thêm 50% so với thị trường
giám đốc Eckhard Pfeiffer muốn mở rộng Compaq sang khách hàng doanh nghiệp, thêm 4000 nhân viên bán hàng Tandem vào đội ngũ 2000 nhân viên bán hàng Compaq
bấy giờ Compaq đang "nuốt" thương vụ mua lại DEC với giá 9.6 tỷ USD

Trở về Hewlett-Packard
ngày 4 tháng 9 năm 2001 HP mua lại Compaq và định vị Tandem là một thương hiệu khả-năng-chịu-lỗi xịn xò trong danh mục sản phẩm của hãng, trang bị chip Intel Itanium
năm 2014 HP trình làng NonStop X trang bị chip Intel Xeon
năm 2015 HP tách làm 2 công ty HP và HPE, Tandem đi theo HPE đến nay, tiếp tục trang bị chip Intel Xeon và chạy cơ sở hạ tầng IT cấp thiết, ví dụ Visa, MasterCard và cây ATM

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét