Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Nhật Bản trí thông minh nhân tạo

Người tiêu dùng
công nghệ thông tin và truyền thông ICT [information & communication technologies] đưa AI vào tất cả mọi thứ, chạy những đoạn quảng cáo và phương tiện [taxi] hình ảnh
GUGA [association to generalize utilization of generative AI] chạy một quảng cáo truyền hình, điều hành những bài kiểm tra một hộ chiếu AI tạo sinh
lập trình viên Nhật Bản giống như Hoa Kỳ cũng ứng dụng Claude Code nhanh chóng

Khách doanh nghiệp
ở một số lĩnh vực, AI và công nghệ thông tin đã được tận dụng chưa tối đa
một công ty thuê ngoài nhân sự Nhật Bản cho biết rằng các đối thủ cạnh tranh của họ đang gặp khó trong việc tự động hoá những quy trình nội bộ
ví dụ: việc điền và nộp những mẫu hoá đơn thuế cho chính quyền, công ty cho biết rằng họ là bên duy nhất làm việc điền đơn bằng một trình trợ giúp cài đặt [wizard] trong máy tính
công ty cho biết, họ đã huấn luyện một trình phân loại [classifier] có thể phân loại danh mục 1 vạn email mỗi tháng

Thị trường ngách
Nhật Bản có rất nhiều doanh nghiệp tích hợp hệ thống, giúp triển khai AI vào các doanh nghiệp và văn phòng chính phủ
ví dụ một công ty điện lực đã hợp tác một đối tác tích hợp hệ thống, để huấn luyện một mô hình, để bắt chước hành vi ấn nút của một nhân viên kỹ thuật ở một nhà máy điện
các doanh nghiệp phần mềm Nhật Bản thường tập trung vào những giải pháp phần mềm đặt-làm-riêng, khiến họ bị tụt hậu so với những tiêu chuẩn toàn cầu, và cũng càng ngày càng tăng chi phí bảo trì phần mềm
những LLM [large language model] và những lớp tác tử, sau rốt, sẽ tạo điều kiện cho các đối thủ sẽ mang lại hiệu quả vượt trội những mô hình AI nhỏ này

Richard Katz
substack của tác giả này viết rằng các doanh nghiệp Nhật Bản thường coi công nghệ thông tin là phương tiện để giảm chi phí và tăng năng suất, trong khi các giám đốc doanh nghiệp Mỹ coi những công nghệ IC [integrated circuit] là cách tăng doanh thu
Nhật Bản có thể ứng dụng AI vào những lĩnh vực vật liệu và hàng không vũ trụ, một số công ty khởi nghiệp tiêu biểu là Matlantis và MI6
trường đại học Nagoya tách ra doanh nghiệp Eiktol
doanh nghiệp Sakana AI

Moar compute
tháng 12 năm 2025 Reuters đăng tin Nhật Bản xây dựng cụm trung tâm dữ liệu Toyama dự kiến đạt công suất điện toán 3.1 gigaWatt so với con số 10 gigaWatt của Stargate
sau sự cố Fukushima, Nhật Bản dừng hoạt động 1 nửa công suất điện hạt nhân
Google chào bán TPU [tensor processing unit] có thể giúp Nhật Bản tiết kiệm tiền mua Nvidia
doanh nghiệp Preferred Networks là một trong những công ty khởi nghiệp lớn và giá trị vốn hoá cao nhất Nhật Bản
năm 2014 Preferred Networks khởi nghiệp với những mạng nơ-ron tích chập CNN trước khi chuyển sang máy biến thế, và hiện nay làm LLM
năm 2017 Preferred Networks hợp tác giáo sư trường Kobe thiết kế loạt chip MN Core
sau ChatGPT, nhóm tiếp tục làm những dòng vi xử lý xếp-chồng 3D có tên M và Core L1000 phục vụ việc suy luận LLM
dòng Core L1000 dự kiến ra mắt năm 2027 cho các trung tâm dữ liệu, chủ yếu sẽ chạy những mô hình AI riêng, Preferred Networks nói rằng sẽ mở khả năng chạy những mô hình AI của các doanh nghiệp khác nữa, mở ra cơ hội chạy tác vụ suy luận trên những mô hình mã nguồn đóng và mã nguồn mở, có thể sẽ là một thương vụ lộc lá

Nhân lực
học sinh trung học Nhật Bản xếp thứ hạng cao ở những kỹ năng toán, khoa học và giải quyết vấn đề
có thể sẽ có những nhân tài Nhật Bản thực hiện những dự án AI đột phá
nền tảng PyTorch lấy cảm hứng từ nền tảng cũ Chainer của Nhật Bản được thiết kế cho Preferred Networks
tại Kaggle một cộng đồng khoa học dữ liệu và máy học, người dùng Nhật Bản thường được đánh giá cao
người Nhật Bản không hiện diện nhiều trong cộng đồng những lý thuyết gia AI và nghiên cứu sinh, bất chấp Twitter nổi tiếng ở Nhật Bản
Sakana AI và các doanh nghiệp Nhật Bản khác không thể đưa ra phúc lợi cạnh tranh lại những đối thủ Mỹ, chảy máu chất xám AI là chuyện tất yếu

Chính phủ
thủ tướng Nhật Bản có kế hoạch mở rộng tài khoá, được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều hợp đồng chính phủ và hợp đồng quốc phòng
chính phủ Nhật Bản có thể đã nghe nhiều về chuyện các doanh nghiệp tư nhân thiếu nguồn lực huấn luyện LLM và làm ra sản phẩm từ LLM
chính phủ Nhật Bản có thể lập ra một số chương trình quảng bá AI tạo sinh, ví dụ METI [ministry of economy, trade & industry] có dự án Geniac [generative AI accelerator challenge] trợ cấp chi phí huấn luyện LLM cho doanh nghiệp như Rakuten
Hàn Quốc cũng thực hiện kiểu dự án này, thực hiện đấu loại thí sinh trong mỗi 6 tháng
chính phủ Nhật Bản mạnh tay trợ cấp R&D nhưng bỏ mặc việc phát triển sản phẩm và thương mại hoá cho các doanh nghiệp tư nhân

AI có chủ quyền
sovereign AI là khả năng của một quốc gia có thể duy trì hiệu suất AI với hạ tầng của quốc gia ấy hay không, đặc biệt quan trọng khi căng thẳng đất hiếm đang diễn ra
tháng 12 năm 2025 Preferred Networks trình làng mô hình phiên dịch Playo phiên dịch tài liệu nhà nước
thông thường, khách hàng muốn sản phẩm tốt nhất; nếu các doanh nghiệp Nhật Bản có tham vọng cạnh tranh toàn cầu, "AI có chủ quyền" khó có thể là sản phẩm tốt nhất, bởi vì những mô hình LLM cho những vấn đề toán và khoa học sẽ cần dữ liệu huấn luyện được mua từ Trung Quốc
thập niên 1980 ngành bán dẫn Nhật Bản mắc kẹt với những công cụ Nhật Bản
ngày nay, tập đoàn bán dẫn Rapidus mua máy ASML chứ không mua Nikon, mất 3 năm để khánh thành nhà máy IIM-1 ở đảo Hokkaido với node quy trình 2 nanomet và đã sẵn sàng đáp ứng đơn hàng của khách

Thâm hụt
năm 2023 Nhật Bản thâm hụt 37 tỷ USD phần mềm
nửa đầu năm 2025 Nhật Bản thâm hụt 24 tỷ USD phần mềm
hầu hết các doanh nghiệp phần mềm Nhật Bản từ bỏ hi vọng làm ra những sản phẩm đối chọi được những tập đoàn Mỹ, trong khi Thung lũng Silicon ở Mỹ trình làng ChatGPT và đang muốn lật đổ cả ASML lẫn TSMC cùng một lúc
SoftBank, Preferred Networks và Sakana AI là những doanh nghiệp tư nhân Nhật Bản duy nhất có tham vọng ở lĩnh vực này

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Máy tính xách tay Toshiba

đầu thập niên 1980 chỉ có 2 loại máy tính xách tay: to và nhiều chức năng (luggable) hoặc nhỏ và chỉ có những chức năng phổ thông (palmtop)
năm 1985 Toshiba trình làng máy tính cá nhân, hội đủ ưu điểm của 2 loại máy xách tay trên

Máy tính cầm tay
tháng 7 năm 1982 hãng Epson trình làng máy cầm tay HX-20
chào bán ở Hoa Kỳ, báo Business Week ca ngợi Epson HX-20 nhỏ gọn, chạy trên pin AA dùng được 50 giờ, đánh dấu "cuộc cách mạng PC thứ 4"
Epson bán được 1/4 triệu chiếc HX-20
tháng 4 năm 1983 hãng Kyocera xuất xưởng TRS-80 Model 100 chạy trên 4 pin AA
Tandy Corporation mua giấy phép TRS-80 Model 100 và chào bán độc quyền sản phẩm này ở chuỗi bán lẻ Radio Shack với giá 800 USD, ngày nay tương đương 2700 USD

Vali
những chiếc máy tính "luggable" nặng đâu đó 12 cân, không có pin
năm 1981 Osborne Computer Corporation trình làng Osborne 1 chạy hệ điều hành CP/M 2.2
đỉnh điểm, doanh số tháng Osborne 1 có lúc lên đến 1 vạn chiếc
năm 1982 NASA nhận GRiD Compass là máy xách tay đầu tiên có thiết kế vỏ sò, giá 8000 USD chạy hệ điều hành và phần mềm đặt-làm-riêng
năm 1983 chào bán Compaq Portable tương tích hệ sinh thái IBM

Personal Dynamic Media
năm 1963 Tetsuya Mizoguchi vào làm cho Toshiba
năm 1977 Tetsuya Mizoguchi đọc được bản phiên dịch tiếng Nhật Bản của ấn phẩm Personal Dynamic Media của Alan Kay, nhà khoa học máy tính đã đề ra "giao diện người dùng" đầu tiên ở phòng thí nghiệm PARC của Xerox
trong bài viết, Alan Kay đề ra ý tưởng sản phẩm Dynabook là một máy tính xách tay hỗ trợ việc học tập
Mizoguchi sản xuất một nguyên mẫu PC đầu tiên là T-400 trang bị chip xử lý Intel 8-bit chạy ngôn ngữ BASIC
năm 1981 Toshiba trình làng dòng máy bàn Pasopia trang bị RAM 64K, chip xử lý Zilog Z-80 và một màn hình tinh thể lỏng - có thể hiển thị 8 dòng, mỗi dòng 40 ký tự - bán kèm một trình dịch BASIC
Pasopia 1 xuất hiện quá muộn để cạnh tranh PC-8001 và hệ điều hành PC-98 của NEC trình làng ít năm trước đó
hệ điều hành PC-98 của NEC đã thống trị thị trường Nhật Bản trong hơn 1 thập kỷ
năm 1982 Toshiba xuất khẩu dòng Pasopia sang thị trường Mỹ, lấy tên Toshiba T200 nhưng không tương thích PC của hãng IBM
năm 1983 Toshiba trình làng Pasopia 7 là mẫu máy dành cho người đam mê

Hai chuyến công tác
trưởng phân nhánh thiết bị điện tử Kiichi Hayata phòng kinh doanh quốc tế (Toshiba) thuyết phục các "sếp" tiếp tục giữ mảng sản xuất OEM [original equipment manufacturer] sau 2 thất bại Pasopia 1 và Pasopia 7
Kiichi Hayata bay sang Hoa Kỳ tìm đối tác, không thành công trong việc thuyết phục khách mua dịch vụ OEM của Toshiba, Kiichi Hayata viết báo cáo cho các "sếp" về việc sản xuất một máy tính xách tay tương-thích-IBM có thể gập lại và để trên bàn
năm 1983, 3 giám đốc Toshiba có chuyến công tác lần thứ 2 đến Hoa Kỳ để họp mặt doanh nghiệp tư vấn McKinsey tại Los Angeles về dự án Brighter Blue
nhân viên Toshiba nhớ lại: "kế hoạch của chúng tôi là một máy tính cá nhân xách tay kiểu-vỏ-sò có một màn hình tinh thể lỏng và khả năng tương thích IBM"

Tiền trảm hậu tấu
ban lãnh đạo Toshiba từ chối đầu tư thêm nguồn lực vào một sản phẩm PC thương hiệu Toshiba nữa, gây khó dễ Tetsuya Mizoguchi và giám đốc phân nhánh kinh doanh máy tính Masaichi Koga
sau 2 lần bị lãnh đạo Toshiba từ chối cung cấp tài chính và nhân sự, Tetsuya Mizoguchi và Masaichi Koga âm thầm "rút ruột" nguồn lực từ nhiều dự án quân sự, sang tài trợ một nhóm công tác chuyên trách (task force) phát triển T1100
nhà máy ở Ome cách xa trụ sở Toshiba, bất chấp thua lỗ ở mảng PC, phân nhánh máy tính Toshiba nói chung vẫn lãi nhờ bán những máy tính nhỏ văn phòng và phần mềm nhận biết ký tự quang học dành cho ngôn ngữ Nhật Bản
tháng 8 năm 1984 nhóm công tác chuyên trách, dẫn dắt bởi Ginzo Yamazaki, hoàn thiện một nguyên mẫu, trang bị chip Intel 80C88 sử dụng công nghệ CMOS, ổ đĩa cứng tích-hợp-sẵn [build-in] và màn LCD đơn sắc 640x400
nguyên mẫu T1100 (ảnh dưới) nặng 4.1 kg với ba chiều kích cỡ 31.1 x 6.6 x 30.5 cm
bấy giờ Atsutoshi Nishida là giám đốc bán hàng PC khu vực Châu Âu

Lotus 1-2-3
thời sinh viên Atsutoshi Nishida yêu một cô gái Iran, sau đó đã theo cô về Iran và vào làm một người tiếp thị liên kết Toshiba
bấy giờ, danh mục bán hàng của Atsutoshi Nishida chỉ có những thiết bị ngoại vi PC và máy tin
Atsutoshi Nishida thường đi Tokyo xem sản phẩm mới ở nhà máy Ome, trong một lần đã trông thấy nguyên mẫu T1100 và nói: "làm cho tôi 7 nguyên mẫu, để tôi có thể đem khoe khắp Châu Âu. Tôi đảm bảo sẽ bán được 1 vạn chiếc trong năm đầu tiên"
trụ sở Toshiba mủi lòng, đồng ý làm 7 chiếc; Atsutoshi Nishida đã phải giảm bớt ngân sách bán hàng và quảng cáo quốc tế của mình, để đủ tiền lấy 7 nguyên mẫu T1100
mang 7 chiếc T1100 đến các đại lý IBM ở Châu Âu, Atsutoshi Nishida thuyết phục họ: "máy bàn IBM nhưng máy tính xách tay Toshiba! Đây là những sản phẩm 'vẹn cả đôi đường' không hề mâu thuẫn giữa 2 vai trò. Trên thực tế, các anh có cơ hội chào bán 2 máy tính cho cùng một khách hàng."
một trở ngại kỹ thuật: chiếc T1100 sử dụng ổ đĩa mềm 3.5 inch trong khi ngành phần mềm đã tiêu chuẩn hoá 5.25 inch
Atsutoshi Nishida đi đến các văn phòng Lotus ở Luân Đôn nhờ họ cung cấp những đĩa mềm 3.5 inch
năm 2005 Atsutoshi Nishida trả lời phỏng vấn Amy Bennett: "lần thứ 4 tôi đến, anh ta (nhân viên Lotus tại văn phòng Luân Đôn) đã chán ngấy sự cố chấp của tôi... Anh ta nói rằng sẽ nói chuyện với một kỹ sư, như một ân huệ cá nhân, không phải cái gì chính thức. Sau đó, tôi đến Lotus với tư cách cá nhân, và người đó đã chuyển Lotus 1-2-3 sang những đĩa mềm 3.5 inch. Nó hoạt động hoàn hảo."
rồi Atsutoshi Nishida đi gặp hãng cung cấp phần mềm Ashton-Tate bán phần mềm cơ sở dữ liệu dBase, và Ashton-Tate nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của Atsutoshi Nishida sau khi nghe rằng đối thủ Lotus đã làm tương tự
trong khi ấy, đội ngũ Toshiba chạy thử hàng trăm gói phần mềm MS-DOS trên máy tính xách tay, trình mô phỏng Microsoft Flight Simulator cũng hoạt động, mặc dù được cho là đặc biệt khó
ngày 17 tháng 4 năm 1985 Toshiba trình làng T1100 tại hội chợ MICRO-COMPUTER tại Hannover, Đức
một reviewer bấy giờ đã thốt lên: "như một máy bàn IBM luôn!... trình Flight Simulator chạy trên màn hình LCD và một màn ngoài, và hàng trăm chương trình khác cũng được hãng tuyên bố là chạy được (cả Lotus 1-2-3)."
"giá bán từ 3000 USD thôi - IBM có cơ hội nào nữa nếu họ định bán sản phẩm muộn hơn, và đắt hơn?"
tháng 8 năm 1985 người viết chuyên mục Gareth Powell của tờ báo Úc viết: "[Toshiba T1000] mang tính cách mạng - một cách lặng lẽ... hầu hết tất cả linh kiện của nó đều đã xuất hiện, dưới hình thức này hay hình thức khác, ở những máy tính đã được bán trước đó trên thị trường"
"Toshiba nổi trội ở cách lắp ráp những linh kiện này, và cách thức... máy sẽ được sử dụng, vai trò khiến nó mang tính cách mạng"
Gareth Powell giải thích rằng khả năng xách tay của T1100 sẽ thay đổi cuộc chơi, vì sẽ cho phép các giám đốc có thể mang công việc về nhà, thay vì ngồi cơ quan đến tối muộn
tháng 11 năm 1985 T1100 cập bến thị trường Mỹ tại hội chợ Comdex và được bán đầu năm 1986
hết năm 1985 Atsutoshi Nishida bán được 9770 máy T1100

Zenith
đầu năm 1986 trình làng Compaq Portable II, Compaq dự tính năm 1988 mới trình làng máy tính xách tay
tháng 10 năm 1986 hãng Zenith trình làng Z-181 thiết kế vỏ sò, tương thích PC, trang bị một màn hình tinh thể lỏng đèn-LED-làm-nguồn-sáng-nền-phía-sau [LED-backlit LCD]
tháng 4 năm 1986 IBM trình làng máy tính xách tay Convertible trang bị ổ đĩa mềm 3.5 inch và pin, nhưng không có màn hình đèn-LED-làm-nguồn-sáng-nền-phía-sau
năm 1986 Toshiba trình làng T1100 Plus tăng xung CPU so với sản phẩm tiền nhiệm
Toshiba vất vả đáp ứng nhu cầu, lượng đơn hàng tồn đọng đã dồn đến nửa năm
một reviewer phàn nàn rằng những phím chức năng trên bàn phím T1100 được lắp ngược trên 2 hàng trên cùng - từ góc trên bên phải, đến góc dưới bên trái - so với thông thường
một số reviewer ca ngợi màn xanh Zenith Z-181 dễ đọc chữ hơn màn hình LCD của T1100
năm 1986 Toshiba chào bán T3100 tương thích máy PC/AT của IBM mới chào bán, thay đổi sang màn hình plasma vàng [yellow-ish], có một ổ cứng 10 megaByte và nặng 6.8 kg
Toshiba chào bán T2100 ở Châu Âu và Úc nhưng không bán ở Mỹ

Thuế quan
tháng 4 năm 1987 Hoa Kỳ áp thuế quan một số hàng Nhật Bản với cáo buộc vi phạm hiệp ước thiết bị bán dẫn Mỹ-Nhật
2 trong số những mặt hàng bị áp thuế quan, là máy bàn và máy xách tay 16-bit có màn hình LCD, thực tế đã tăng gấp 2 giá bán T1100 Plus tại thị trường Hoa Kỳ
năm 1987 Toshiba chào bán T1000 trang bị chip xử lý Intel 80C88 xung 4.77 megaHertz liên lạc qua một buýt 8-bit để né thuế quan
nặng 2.9 kg và kích thước 12 x 11 x 2 inch, T1000 là máy xách tay MS-DOS di động nhất bấy giờ, đủ các cổng kết nối connector, port và ổ đĩa, một pin niken-cadmi chạy được 5 giờ không xạc, bán giá 1200 USD bấy giờ, nay tương đương 3300 USD
tờ báo Byte Magazine đăng một nhận xét T1000 là chiếc laptop đầu tiên mang lại trải nghiệm gõ phím "mượt" hơn Tandy Model 100
năm 2006 biên tập viên tờ báo PC World liệt T1000 là chiếc PC tốt thứ 17 mọi thời đại
năm 1987 Toshiba chiếm 40% thị phần Âu Mỹ nhờ vào doanh số T1000 và phiên bản SE
năm 1988 Toshiba giữ 38% và 21% thị phần laptop lần lượt Mỹ và Châu Âu

Dynabook
Tetsuya Mizoguchi muốn sản xuất chiếc Dynabook năm 1977 Alan Kay khơi ra, hình dung một sản phẩm to bằng tờ giấy A4, dày 40 milimet, nặng 3 kg, có màn LCD đèn-LED-làm-nguồn-sáng-nền-phía-sau, một nút bật Start giống như Convertible của hãng IBM, một ổ đĩa cứng, gía bán chưa đến 200 000 yên Nhật Bản
kể rằng, các kỹ sư đã làm ra một nguyên mẫu Dynabook dày 50 milimet với tuyên bố rằng đây là hết sức có thể rồi; lãnh đạo Toshiba đã dìm nguyên mẫu này xuống một xô nước, chỉ ra những bong bóng đã sủi lên trên bề mặt xô nước, nói rằng vẫn còn không gian để được thu nhỏ; đội ngũ Dynabook sau đó đã giảm bề dày xuống còn 44 milimet
ngày 26 tháng 6 năm 1989 Tetsuya Mizoguchi trình làng Dynabook J-3100 tại khách sạn Shinjuku Century Hyatt nay được gọi là Hyatt Regency Tokyo
sau buổi ra mắt, Alan Kay đến Nhật Bản ký tên lên 8 chiếc Dynabook, nhưng sau này Alan Kay cũng nói rằng không công nhận Toshiba Dynabook là Dynabook thực sự... bởi vì Toshiba Dynabook chạy hệ điều hành MS-DOS
năm 1997 Toshiba bán được sản phẩm thứ 10 triệu
thập niên 2000 Hewlett-Packard và Dell đánh bại Toshiba ở phân khúc sản phẩm bình dân, trong khi Dell và IBM/Lenovo đánh bại Toshiba ở phân khúc khách hàng doanh nghiệp
năm 2018 Toshiba bán cổ phần tại phân nhánh Dynabook cho hãng Sharp/Foxconn
tháng 8 năm 2020 Toshiba hoàn toàn rút khỏi ngành PC

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Bóng bán dẫn kim cương

Vòng phản hồi tiêu cực
vùng cấm [bandgap] của silic đâu đó 1.12 evelectron Volt, nhiệt độ có thể khiến bóng bán dẫn "vô ý" bật/tắt; ở nhiệt độ cao, hạt mang điện có thể "đấm xuyên qua" [punch through] cổng, làm rò rỉ một dòng điện nhỏ, toả thêm nhiệt, càng làm tăng rò rỉ điện
người ta tìm cách kiểm soát số lượng bóng bán dẫn silic trong một đơn vị diện tích bề mặt chip được bật trong suốt quá trình hoạt động, phòng ngừa sự cố rò rỉ điện "mất kiểm soát" trên
cường độ điện trường đánh thủng [breakdown field] của silic chỉ 0.3 megaVolt/cm quá thấp, vùng nghèo hạt mang điện trong bóng bán dẫn có thể mở rộng quá mức, nối liền cực máng và cực nguồn, khiến bóng bán dẫn mất khả năng điều khiển dòng điện
ví dụ, biến tần [inverter] của động cơ xe điện có thể chịu được 400 volt điện áp
bộ khuếch đại tần số vô tuyến [radio frequency amplifier] tín hiệu 1-6 gigaHertz ở các trạm 5G và ở những dải tần số cao hơn nữa cho những bước sóng milimét

Tăng "vùng cấm"
ngành đã áp dụng một số vật liệu có vùng cấm cao hơn silic
indi phosphide và galli arsenide có vùng cấm lần lượt 1.35 và 1.42 electron Volt nhưng đều độc hại và hiếm hơn silic
silic carbide và galli nitride có vùng cấm lần lượt 3.26 và 3.4 electron Volt
silic carbide có "độ linh động tải hạt" thấp, electroc và lỗ trống sẽ đi qua rất chậm, một phần vì ôxit của silic carbide là silic đi-ôxit; tương tác giữa những nguyên tử silic, ôxy và carbon tạo ra những khuyết tật, gọi là "bẫy" [trap] ngăn cản chuyển động của các hạt mang điện
galli nitride được sử dụng trong ngành LED và quang học, nhưng sẽ bất ổn ở tần số bật/tắt cao, nếu bị đặt ở nhiệt độ và trường điện cao, galli nitride dễ mất kiểm soát hơn silic

Vùng cấm siêu rộng
cuối thập niên 1980 đầu 1990 có những thử nghiệm vật liệu "vùng cấm" siêu rộng, ví dụ: nhôm nitride, galli ôxit, kim cương (vùng cấm 5.5 electron Volt)
kim cương có "cường độ điện trường đánh thủng" lên đến 10 megaVolt/cm và "độ linh động tải hạt" gấp 3 lần silic đối với electron và 9 lần đối với "lỗ trống", đặc biệt tốt hơn nữa ở những kim cương hạng-điện-tử rất tinh khiết
nhờ "liên kết cộng hoá trị" mạnh, cho phép những hạt phonon lan truyền mà không có trở ngại, kim cương có "độ dẫn nhiệt" đâu đó 2200 watt/mét-Kelvin so với silic 150 watt/mét-Kelvin, đồng 400 watt/mét-Kelvin và silic carbide 370 watt/mét-Kelvin
bóng bán dẫn "độ linh động electron" cao đã được sản xuất với kim cương làm "bộ tản nhiệt" [heat sink] bên dưới, một bóng bán dẫn "kim cương" sẽ có bộ tản nhiệt đã sẵn ngay, cho phép những mật độ cao của những bóng bán dẫn đang bật, và giảm trách nhiệm làm mát (phương pháp cổng-sau-kim-cương) [gate-after-diamond]
nhờ những liên kết chặt chẽ, kim cương có thể chống được bức xạ, một phẩm chất thích hợp làm ứng dụng ngoài vũ trụ
"độ dẫn nhiệt" cao, "điện áp đánh thủng" cao, chống được bức xạ, "độ linh động tải hạt" cao... kim cương hoàn hảo cho những thị trường ngách hiệu-năng-cao ở trong thị trường điện tử điện lực 55-60 tỷ USD
cuối thập niên 1950 M. Drake Bell sản xuất một điôp sử dụng kim cương kiểu-P tự nhiên

Phương pháp Czochralski
khuyết tật tinh thể, được định nghĩa là những sai khớp của các nguyên tử, những khoảng trống của cấu trúc, những gián đoạn của mặt cắt tinh thể... có thể tác động những hạt mang điện, cản trở hiệu năng của thiết bị
phương pháp Czochralski hiệu quả với silic nhưng không làm được cho kim cương vì không thể sản xuất một bể kim cương lỏng: trừ khi đặt trong áp suất rất cao, kim cương nóng chảy sẽ biến thành than chì
thập niên 1950 phương pháp HPHT [high pressure high temperature] bắt chước những điều kiện của bên trong Trái Đất: đặt carbon dưới một pít-tông làm từ một hợp kim siêu-cứng chịu được áp lực 5.5 gigaPascal và nhiệt 1300-1400 độ C
HPHT tổng hợp được kim cương, nhưng có 3 vấn đề: một là hạt kim cương quá bé, hai là những dị vật đã lọt vào từ những thứ bên ngoài (boron, cobalt, nitơ) khiến những kim cương này, phần nhiều đã có màu vàng (đâu đó 10-100 phần/triệu tạp chất nitơ)
vấn đề thứ 3 là HPHT đắt đỏ và cần nhiều công bảo trì

Lắng đọng hơi hoá học plasma sóng vi ba
MPCVD [microwave plasma chemical vepor deposition] bơm một hỗn hợp khí "tiền chất" [precursor] là khí methan được 97% pha loãng trong khí hydro, vào một khoang
sóng vi ba [microwave] đánh đuổi electron khỏi những nguyên tử khí, tạo ra plasma, khí methan phân huỷ thành carbon và hydro
những nguyên tử carbon tự do, sau đó, hình thành những phản ứng hoá học trên bề mặt của một kim cương "hạt giống"
sử dụng kim cương làm hạt giống, cho nên đây gọi là "lắng-đọng-màng-mỏng đồng chất" [homo-epitaxy]
thập niên 1980 thương mại hoá MPCVD trở thành phương pháp phổ biến nhất để sản xuất hàng loạt kim cương hạng-đá-quý
ở Đài Trung (Đài Loan) đã có cơ sở MVCVD sản xuất kim cương hạng-điện-tử

Wafer kim cương đen
vấn đề thứ 1 là làm sao tăng tốc độ mọc MVCVD mà không tổn hại chất lượng của tinh thể thành phẩm
plasma được-sản-xuất-bởi-sóng-vi-ba bản chất là không đều [non-uniform], dòng chảy plasma lên bề mặt kim cương "hạt giống" thay đổi bởi một số thứ: hiện diện của những lỗ trống, đường cạnh... trên nền-mang [substrate-carrier]
những khoảng diện tích của mặt wafer trải qua những điều kiện khác nhau, chất lượng không đồng đều, trong khi carbon dễ "tạo mầm" [nucleate] khiến kim cương rất dễ hình thành nhiều tinh thể nhỏ, tách biệt bởi những đường biên thớ [grain boundary] gọi là "kim cương đa tinh thể" [polycrystal]
một vấn đề nữa là thiếu những hạt giống kim cương đơn-tinh-thể đủ lớn, hầu hết hạt giống kim cương được sản xuất nhờ HPHT
những tiến trình [dynamic] của những khí tiền-chất diễn ra trong khoang, khiến việc lắng-đọng kim cương đơn-tinh-thể nhờ MPCVD chậm chỉ 75 micromet/giờ nếu không có nitơ, nhanh gấp đôi nếu có nitơ, nhưng quá nhiều nitơ gây ra khuyết tật NV [nitrogen-vacancy]
ở phòng thí nghiệm Đài Trung, 2 carat kim cương hạng-đá-quý mất 2 tuần sản xuất
mục tiêu thương mại là wafer rộng 4 inch và tỷ lệ lỗi 1/10 cm vuông
hiện nay, một wafer kim cương đơn-tinh-thể rộng 10 inch đắt gấp 1 vạn lần silic cùng cỡ
wafer kim cương hạng-điện-tử có màu đen

Tăng quy mô
MPCVD là một phản ứng phi-tuyến: nếu muốn cô lập sự ảnh hưởng của một yếu tố, sẽ cần nhiều lần chạy thử nghiệm
tăng quy mô lên wafer rộng 4 inch sẽ cần tăng kích thước "hạt giống"
ví dụ CVD tăng trưởng kim cương theo chiều ngang, đã tăng kích thước gấp 1-2 lần trong một lần chạy thử
ý tưởng khác là tăng trưởng kim cương đơn-tinh-thể ở các phía bên của "hạt giống"
một phương pháp khác là "khảm" [mosaic] lấy nhiều "hạt giống" đặt cùng vào một mặt khảm, giống như một ô cửa sổ: kim cương sẽ mọc lên trên mặt khảm, hợp nhất thành một miếng duy nhất, có thể được nhấc ra khỏi mặt khảm
đã có những dự án thử áp dụng những hạt giống không-phải-kim-cương và đã tạo được "lắng-đọng-màng-mỏng đồng chất" với những vật liệu, ví dụ iridi
những lớp iridi được lắng đọng bên trên ôxit kim loại và nền silic vì những lý do chi phí và nhiệt độ, được cho là cách tốt nhất để đạt được wafer đơn-tinh-thể rộng 4 inch, nhưng vẫn còn những vấn đề khuyết tật

Pha tạp
ngày nay, cấy ion [ion iplantation] nguyên tử boron và phosphorus vào tinh thể silic để tạo ra kiểu-P và kiểu-N
kênh của bóng bán dẫn silic có nhiều hạt mang điện, những nguyên tử boron và phosphorus sẵn lòng từ bỏ những hạt mang điện của mình khi được cho 0.045 electron Volt nhiệt năng
ngưỡng năng lượng ion hoá của silic đủ thấp (tiếng lóng công nghiệp là "đủ nông") để hoạt động ở nhiệt độ phòng
ngưỡng năng lượng ion hoá của kim cương pha-boron là 0.36 eV và kim cương pha-phosphorus là 0.57 eV
một số lựa chọn vật liệu pha tạp [dopant] khác, nhưng kết quả tệ hơn boron và phosphorus

Kim cương kiểu-P
đầu tiên, ngành thử khắc phục hạn chế của boron bằng cách thử-sai [brute force]: boron không chịu nhả nhiều lỗ trống electron, thì thêm nhiều boron vào mạng lưới tinh thể kim cương
nhưng, pha tạp quá nhiều boron sẽ khiến vật liệu hoạt động giống với kim loại hơn là vật liệu bán dẫn, gọi là "bị thoái hoá" [degenerate]
ngành đã thử "pha bồi" [delta-doping] tạo một lớp mỏng kim cương pha-boron ở giữa 2 lớp kim cương bình thường: các nhà khoa học đang gặp khó khăn trong việc tìm cách thực hiện việc này một cách nhất quán, vì những phương pháp cấy ion đã cho thấy rằng sẽ gây hư hại cho mạng lưới tinh thể kim cương

Kim cương kiểu-N
nitơ là lựa chọn khác thay cho phosphorus nhưng ngưỡng năng lượng ion hoá của kim cương pha-nitơ là 1.7 eV
vấn đề pha tạp kim cương đã khó đến nỗi làm nản lòng những nỗ lực cải tiến công nghệ, quay sang đầu tư vào silic carbide và vật liệu khác

Liên kết lỏng lẻo trên bề mặt chất rắn
năm 1989 một thí nghiệm CVD kim cương đã phát hiện rằng nếu loại bỏ [terminate] những liên kết lỏng lẻo [dangling] trên bề mặt kim cương, bề mặt có thể dẫn điện tốt gấp 1 nghìn tỷ lần so với kỳ vọng
những liên kết lỏng lẻo [dangling] vồ lấy những hạt mang điện đi qua, ví dụ electron; loại bỏ [terminate] những liên kết lỏng lẻo [dangling] này bằng cách gắn một nguyên tử cho chúng, để "thoả mãn" những liên kết lỏng lẻo này
sau khi đã loại bỏ [terminate] những liên kết lỏng lẻo [dangling], kết quả được một lớp kim cương mỏng cho phép những lỗ trống electron đi qua, bỏ qua vấn đề dẫn điện yếu ớt của kim cương pha-boron
thập niên 1990 nhiều nghiên cứu đã xác nhận việc loại bỏ [terminate] những liên kết lỏng lẻo [dangling] này đã giúp bề mặt kim cương dẫn điện tốt, và có thể sản xuất được thiết bị bật/tắt

Bóng bán dẫn hiệu-ứng-trường kim-loại-chất-bán-dẫn
năm 1994 trình làng MESFET [metal-semiconductor field-effect transistor] có cực nguồn, cực máng, cổng... đều làm bằng kim loại
nền được làm từ những kim cương đơn-tinh-thể được sản xuất bởi phương pháp HPHT, trên đó, một lớp kim cương được tăng trưởng nhờ MPCVD
rồi hydro-hoá [hydrogen-termination] thông qua plasma hydro được-kích-hoạt-bằng-sóng-vi-ba để tạo ra bề mặt mỏng kiểu-P dẫn điện
rồi 2 miếng vàng được lắng đọng lên trên, làm cực nguồn và cực máng, ở giữa là một cổng nhôm
thành phẩm MESFET hoạt động, nhưng những hạt mang điện vẫn chậm
trong những năm sau đã xuất hiện MESFET chỉnh sửa và cải tiến, ví dụ ôxy-hoá [oxygen-termination] thay cho hydro-hoá [hydrogen-termination] để ổn định hơn trong không khí
một số thách thức, ví dụ, những bóng bán dẫn ở trong thiết bị điện tử điện lực là theo chiều dọc: cực nguồn và cưc máng ở 2 bên wafer, cho phép một dòng điện năng chảy qua khối [bulk] thiết bị, vì những lý do nhiệt và điện áp
với MESFET kim cương, điện năng chảy qua lớp mỏng bề mặt đã ôxy-hoá hoặc hydro-hoá, khác với những thiết bị điện tử silic carbine và galli nitride [GaN]
HEMT [high electron mobility transistor] sử dụng phương pháp cổng-sau-kim-cương [gate-after-diamond]

Kết
năm 1999 đã có wafer silic carbine rộng 4 inch
năm 2011 doanh nghiệp Cree trình làng thiết bị silic carbine đầu tiên

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Westinghouse Electric

tháng 8 năm 1998 Westinghouse Electric bán mảng kinh doanh sản xuất điện, trở thành một doanh nghiệp truyền thông

George Westinghouse
năm 1886 kỹ sư George Westinghouse sáng lập Westinghouse Electric
năm 1846 George Westinghouse sinh ra
năm 1869 George Westinghouse phát minh phanh hơi [air brake] cho tàu hoả, cứu giúp nhiều nghìn mạng sống của công nhân tàu hoả
trong dài hạn, phanh hơi đã tạo điều kiện cho tàu hoả đi nhanh và vận tải nhiều toa tàu hơn
ngày 28 tháng 9 năm 1869 George sáng lập doanh nghiệp Westinghouse Air Brake Technologies Corporation (WABCO) tại Pittsburgh tiểu bang Pennsylvania
sáng lập Westinghouse Electric vì George Westinghouse muốn điều khiển hệ thống tàu hoả bằng các thiết bị điện xoay chiều
năm 1886 George Westinghouse đăng ký sáng chế một máy hạ thế, tạo điều kiện cho truyền tải điện xoay chiều
năm 1896 Westinghouse Electric và General Electric của Thomas Edison đã đàm phán một bể bằng sáng chế được-chia-sẻ, củng cố vị thế nhị quyền của 2 doanh nghiệp này ở ngành công nghiệp điện lực Hoa Kỳ

Hoảng loạn 1907
George Westinghouse là một kỹ sư giỏi, nhưng cũng là một giám đốc chuyên quyền
tính lạc quan của George Westinghouse đã đưa công ty đến nhiều dự án mở rộng bằng vốn vay
năm 1907 khủng hoảng tài chính Mỹ do sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, bắt nguồn từ nỗ lực thao túng thị trường chứng khoán đồng và sự thiếu tin tưởng vào các công ty ủy thác, dẫn đến một chuỗi các vụ chạy đua rút tiền ồ ạt [bank runs] làm tê liệt hệ thống ngân hàng thiếu một ngân hàng trung ương
năm 1907 các ngân hàng chủ nợ của Westinghouse Electric đã gạt George Westinghouse ra khỏi các hoạt động của công ty, thế chỗ bởi chủ tịch Guy Tripp
năm 1914 George mất, hưởng thọ 64 tuổi

Vô tuyến
Guy Tripp dẫn dắt việc dọn dẹp cấu trúc tài chính và vốn chủ sở hữu của Westinghouse, làm lại những phong cách quản lý cho giống với General Electric
thế chiến 1 nổ ra, Westinghouse Electric nhận được những hợp đồng chính phủ, khẳng định vị thế công ty với những sản phẩm thiết bị điện, ví dụ tua-bin, và thiết bị mạng lưới điện, ví dụ thiết bị đóng cắt
thập niên 1910 Westinghouse Electric tích luỹ những bằng sáng chế radio và bắt đầu sản xuất máy tiếp sóng [receiver] lần đầu tiên đã đưa công ty vào mảng kinh doanh phát thanh & truyền hình
ngày 2 tháng 11 năm 1920 Westinghouse Electric khai trương KDKA, trạm phát thanh AM phát sóng từ mái nhà một nhà máy của công ty ở Pittsburgh
Westinghouse Electric đã không chú ý thoả đáng đến công trình của nhân viên Vladimir Zworykin, sau đó đã chuyển sang làm cho RCA nơi ông phát minh ống truyền hình [picture tube]

Chu kỳ lành tính [benign circle]
thập niên 1920 Hoa Kỳ bắt đầu nỗ lực điện khí hoá, hiện đại hoá
theo chân đối thủ General Electric, Westinghouse Electric chào bán bếp điện, tủ lạnh và máy giặt... để kích cầu các công ty tiện ích [utility] mua tua-bin điện
GE và Westinghouse gọi đây là một chu kỳ lành tính, thay thế chu kỳ bùng-nổ-và-suy-thoái trước đó trong mảng kinh doanh tua-bin điện
năm 1935 Westinghouse và GE hợp nhất những nỗ lực R&D vào một phòng thí nghiệm công nghiệp trung tâm

Mục đích quân sự
các giám đốc cấp cao Westinghouse không đủ năng lực thẩm định các kết quả của phòng thí nghiệm, cho nên, mặc dù phòng thí nghiệm đã thực hiện một số nghiên cứu trong "phổ khối" [mass spectrometry] và vật lý hạt nhân, ít sản phẩm thành công đã được xuất xưởng
năm 1937 phòng trình làng máy đập nguyên tử Westinghouse, thực ra là một máy gia tốc hạt tĩnh điện Van de Graaff cao 20 mét, hình thù quả lê, được chế tạo ở Pennsylvania
hoạt động của máy đập nguyên tử của Westinghouse đã phát hiện quy trình phân hạch ánh sáng [photofission] khi những hạt nhân nguyên tử urani và thori bị phân tách sau khi bị những tia gamma bắn vào
nghiên cứu của phòng ở lĩnh vực điện tử vi ba [microwave electronic] đã đưa đến những hợp đồng quốc phòng, sản xuất thiết bị radar
năm 1946 Westinghouse báo lỗ hoạt động 53 triệu đô la Mỹ, tồi tệ nhất kết từ Đại suy thoái, một phần vì việc huỷ những hợp đồng quốc phòng 3 tỷ USD sau chiến tranh
chiến tranh Triều Tiên và căng thẳng chống lại chủ nghĩa cộng sản, giám đốc Gwilym Price điều hành Westinghouse đi sâu hơn vào những sản phẩm quốc phòng
năm 1950 doanh thu Westinghouse vượt 1 tỷ USD, danh mục sản phẩm trải dài từ những lót mũ bảo hiểm, cho đến những hệ thống đẩy của máy bay và tàu vũ trụ
ví dụ một dự án hầm gió ở Tullahoma tiểu bang Oklahoma, Westinghouse đã thất bại trong việc thương mại hoá
hầu hết các dự án Westinghouse ở radar, hệ thống điện và công nghệ hạt nhân
Westinghouse có 2 dự án phát triển động cơ phản lực và lò phản ứng hạt nhân cho Hải quân Mỹ
bất chấp những thành công ban đầu, dự án phản lực Westinghouse thất bại, một phần vì công ty đã thiếu đầu tư ngoài những khoản trợ cấp chính phủ, và việc quá tập trung vào sản xuất phục vụ Hải quân
lò phản ứng Westinghouse trở thành sản phẩm biểu tượng của công ty, cộng hưởng với phân nhánh tua-bin hơi nước Westinghouse

Thiếu nhân lực
những hợp đồng quốc phòng đã hút nhân sự Westinghouse khỏi những mảng kinh doanh tua-bin
Westinghouse có quy mô chỉ bằng một nửa GE, các dự án quốc phòng đã rút kiệt tiền đầu tư và nhân lực công ty, hiệu quả hoạt động của Westinghouse bắt đầu suy giảm vào một thời điểm rất quan trọng
sau Thế chiến 2, nhu cầu điện Hoa Kỳ tăng, tạo ra những hệ quả mà Westinghouse đã không dự đoán được trước và cũng không điều chỉnh để thích ứng cho
Westinghouse và GE đều sản xuất tua-bin tiêu chuẩn đâu đó 25-99 megaWatt
đại khái, đây là tua-bin 2 khoang, hơi nước đi qua các cánh quạt 1 lần, các cánh quạt tua-bin chịu ít áp lực, và cũng dễ sản xuất hàng loạt
bấy giờ, một nửa tua-bin Westinghouse là theo thiết kế 2-khoang đơn giản này
năm 1948 để sản xuất tua-bin tiêu chuẩn này, Westinghouse mua và trang bị lại công cụ một nhà máy ở Sunnyvale tiểu bang California, xa khỏi những nhà máy "lõi" của công ty ở Pittsburgh và miền nam Philadelphia

General Electric
từ năm 1950 các công ty tiện ích [utility] hỏi mua những tua-bin có hâm lại hơi, hâm lại hơi nước sau khi hơi đi qua khoang 1 để gửi sang khoang 2
GE tích cực chuyển đổi khỏi mô hình sản xuất chuẩn-hoá cũ, sang làm những tua-bin theo dự án đặt-làm-riêng [custom-investing time], phát triển những máy đúc [forge press] và cải tiến những công nghệ kim loại... đáp ứng yêu cầu thiết kế mới
lấy lời khai tại toà án, một nhân viên Westinghouse nhớ lại: "ôi trời ơi, ấy là khi những mong muốn thực sự của ngành điện đã trở nên rõ ràng hơn, liên quan đến nhu cầu tua-bin công suất lớn hơn, áp suất siêu cao và nhiệt độ nóng"
"chúng tôi đã phải thiết lập những khoá học cấp tốc, để tìm hiểu hành vi của những vật liệu này, để có thể giữ được những áp lực của chúng tôi trong những ràng buộc của những gì có thể chấp nhận được"
kỹ sư trưởng của Westinghouse nhớ lại đã rất thiếu nhân lực trong những năm ấy, nhất là giai đoạn năm 1951-1953 chiến tranh Triều Tiên, nhân viên làm việc cả Thứ Bảy lẫn Chủ Nhật và thêm một số ca đêm, đơn hàng tồn đọng đã tăng vọt
từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 4 năm 1956 công nhân Westinghouse đình công
sau cuộc đình công 10 tháng, Westinghouse tập trung mở rộng năng lực sản xuất, đánh đổi là 6 năm sau đó đã giảm đầu tư R&D

Cố định giá
nửa đầu thập niên 1950 các hãng thiết bị điện đã xây dựng nhiều nhà máy tua-bin phục vụ chiến tranh
năm 1953 Triều Tiên đình chiến, các hãng tua-bin thừa cung, nhà máy không có đơn hàng, chi phí đầu tư vốn đã chót bỏ ra, Westinghouse bắt đầu giảm giá bán, GE sớm theo chân, nhen nhóm chiến tranh giá bán
năm 1955 Westinghouse, GE và Allis-Chalmers bí mật tụ họp và cấu kết giá bán những thiết bị, ví dụ thiết bị đóng cắt, nộp những gói thầu giống nhau cho các công ty tiện ích [utility]
năm 1959 doanh nghiệp nhà nước Tennessee Valley Authority trao thầu cho những doanh nghiệp nước ngoài, ví dụ CA Parsons của Vương quốc Anh, những doanh nghiệp đã nộp thầu rẻ 30-40% hơn những doanh nghiệp Hoa Kỳ
đầu năm 1961 FBI phá đường dây cấu kết giá bán giữa GE, Westinghouse và những doanh nghiệp khác, cáo buộc những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1880 đơn kiện đã được nộp lên, buộc tội 29 công ty và 45 giám đốc, một số người đã bị phạt tù
vụ kiện chống độc quyền điện đã làm tụt giảm giá bán, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài nhảy vào thị trường Hoa Kỳ và buộc Allis-Chalmers rút lui khỏi mảng kinh doanh tua-bin

Burnham (ngài Tự Động Hoá)
năm 1963 Donald Burnham kế nhiệm Mark Cresap bị viêm gan, nhậm chức giám đốc
một thập kỷ trước đó Burnham chuyển sang làm cho Westinghouse từ General Motors để dọn dẹp những hiệu quả sản xuất, bằng cách tăng cường tự động hoá
năm 1963 tinh thần Westinghouse Electric ở mức thấp kỷ lục, các hợp đồng chính phủ cũng gặp rủi ro, tổng thống Lyndon Johnson củng cố quyền lực ở cả Nhà Trắng lẫn Quốc Hội sau khi JFK bị ám sát
Lyndon Johnson đưa ra tầm nhìn Xã hội Vĩ đại [Great Society] là một loạt những chính sách xoá đói giảm nghèo và cải thiện sinh kế người dân Mỹ
tầm nhìn Lyndon Johnson làm giảm những hợp đồng quốc phòng, Westinghouse Electric phải nhận thêm những hợp đồng "giá cố định" ở những dự án phát triển rủi-ro-cao
tỷ suất hoàn vốn ROI [return on investment] giảm từ 10.2% năm 1958 xuống còn 6.3% năm 1964

Đa dạng hoá danh mục
trong hàng thập kỷ Westinghouse Electric bắt chước đối thủ General Electric, dẫn đến những danh mục sản phẩm rất trùng lặp
năm 1966 ban lãnh đạo Westinghouse dưới quyền Burham đã sửa đổi điều lệ công ty, trước đó đã hạn chế doanh nghiệp chỉ hoạt động ở những hệ thống điện
điều lệ mới đã viết: "sản phẩm và dịch vụ ở những thị trường, trong đó Westinghouse có thể có lãi phù hợp và tăng trưởng nhờ sử dụng những kỹ năng và thế mạnh, được củng cố nếu cần bởi những khả năng được mua lại"
Burham tái cơ cấu Westinghouse thành những đơn vị phi-tập-trung và chỉ thị các lãnh đạo ở những đơn vị ấy phải tăng trưởng 10% doanh thu với ROI đạt 15%, nhưng Burham không ép buộc cách thức thực hiện
nửa cuối thập niên 1960 Westinghouse đầu tư vào những máy tia X, các doanh nghiệp đóng chai nước ngọt có gas, nhà máy khử muối, giáo dục, cho thuê ô tô, đồng hồ được bán qua thư
cuối thập niên 1950 Westinghouse quảng bá khẩu hiệu "nhà toàn điện" [All-Electric Home] và "sống tốt hơn theo phong cách điện" [Live better Electrically]
thậm chí Westinghouse phát triển cả một thành phố, mua lại một doanh nghiệp xây dựng, để lập kế hoạch thành phố Coral Springs ở Florida
Westinghouse đầu tư vào kỹ thuật biển, với việc ký đối tác với nhà hải dương học Jacques Cousteau... vì Burham cho rằng sẽ giúp ích những dự án khoan dầu và nuôi trồng thuỷ sản... đội ngũ hợp tác đã phát triển chiếc tàu ngầm Diving saucer (ảnh dưới)
Westinghouse cũng đầu tư vào giáo dục, với kinh nghiệm phát sóng và mong muốn đào tạo từ xa những nhân viên công ty, Westinghouse lập dự án PLAN là những trường học có hệ thống học được-quản-lý-bởi-máy-vi-tính [Program of Learning in Accordance with Needs]
Westinghouse cũng đầu tư dự án xe điện, được ca ngợi là cuộc cách mạng chống lại động cơ đốt trong
Westinghouse đầu tư nghiên cứu xử lý rác thải, lý do là phục vụ nhu cầu xã hội
tháng 4 năm 1965 ấn phẩm Guffey's Journal đăng tin một quy trình "tự nhiên hoá" [naturizer] nhanh chóng "tiêu hoá" rác thành "phân ủ hữu cơ" [compost]
một lãnh đạo Westinghouse nhớ lại: "bấy giờ, chúng tôi có niềm tin rằng chúng tôi có thể làm bất cứ gì"

Tua bin hỏng
giữa thập niên 1960 các công ty tiện ích [utility] muốn tua-bin đâu đó 500-1000 megaWatt để thêm "điện cận biên" [marginal electricity] để ngăn mất điện [blackout]
GE có nguồn lực và kỹ thuật để sản xuất những đơn vị hơi nước siêu-tới-hạn [supercritical] nung nóng hơi nước đến nhiệt độ và áp suất rất cao
bất ngờ Westinghouse loay hoay tăng quy mô những thiết kế sẵn có của hãng, tua-bin Westinghouse gặp tỷ lệ lỗi cao gấp 4 lần GE và dẫn đến những hệ quả pháp lý sau đó
nhưng Westinghouse đánh bại GE ở những lò phản ứng hạt nhân, với thiết kế PWR được ứng dụng rộng rãi hơn, nhưng các công ty điện nước [utility] ưa chuộng tua-bin GE để chuyển đổi hơi nước của lò phản ứng hạt nhân Westinghouse (ảnh dưới: lò Shippingport) thành điện năng
học giả Alfred Chandler của trường kinh doanh Harvard đổ lỗi sự suy thoái của Westinghouse cho giai đoạn mua-bán-sáp-nhập thả phanh cuối thập niên 1960, rằng những thương vụ ấy đã khiến Westinghouse mất tập trung và nguồn lực cho mảng kinh doanh tua-bin
nhìn lại các sự kiện, người ta có thể cho rằng Chandler nói ngược: Westinghouse đa dạng hoá danh mục đầu tư, vì mảng kinh doanh tua-bin đã bắt đầu thoái trào
giữa thập niên 1950 Westinghouse bỏ lỡ cuộc chuyển đổi kỹ thuật sang tua-bin có hâm lại hơi, căn bản đã tụt hậu so với GE; khi các doanh nghiệp điện nước [utility] tiếp tục chuyển sang những đơn vị hơi nước siêu-tới-hạn, Westinghouse từ bỏ tham vọng bám đuổi và thử một hướng đi mới
nỗ lực đa dạng hoá của Burham giúp tăng doanh thu và lợi nhuận Westinghouse
năm 1972 Burham thực hiện một kế hoạch nửa-nghỉ-hưu sẽ yêu cầu Burham nghỉ hưu sớm 5 năm so với quy định bắt buộc, nhưng Burham sẽ vẫn giữ vị trí CEO danh dự [Emeritus] để nghiên cứu "năng suất của công nhân cổ cồn trắng"
nửa cuối năm 1973 ban lãnh đạo và cổ đông Westinghouse nhận tin báo lỗ từ 4 công ty con: 2 công ty liên quan đến nhà máy khử muối và phát triên bất động sản, bị ảnh hưởng bởi chính quyền Nixon rút lại trợ cấp cho những ngành này; công ty con thứ 3 là nhà phân phối đồng hồ được-bán-qua-thư Longines-Wittnauer lấy tên giống với hãng đồng hồ Thuỵ Sĩ nổi tiếng
thực ra Westinghouse chỉ muốn mua lại mảng kinh doanh sách và bản thu âm được-bán-qua-thư của Longines-Wittnauer để phục vụ việc kinh doanh phát sóng, việc bán đồng hồ Longines-Wittnauer là phần được bán kèm
làn sóng đồng hồ Nhật Bản ồ ạt vào Hoa Kỳ đã phá giá mảng kinh doanh đồng hồ, khiến Westinghouse lỗ nặng
công ty con thứ 4 là một công ty thang máy Pháp vô danh
năm 1965 Westinghouse mua công ty này để đấu lại đối thủ Otis
được quảng cáo là chỉ cần nhấn nút đặt hàng [hit the button on orders], các giám đốc Pháp đã bán thang máy, trong 3 năm sau đó, ở mức giá quá rẻ... bởi vì doanh nghiệp Pháp đã không biết rõ về cấu trúc chi phí của chính công ty mình
sau này, khám phá rằng công ty Pháp có một nhà máy ở thành phố Nice, một khu vực lương cao
công ty Pháp thử tăng giá bán, lập tức đã khiến doanh số sụt giảm, để lại Westinghouse hàng trăm nhân viên lương-cao mà Westinghouse không dám sa thải, bởi vì Pháp thập niên 1970 quá... và Pháp cũng mua lò phản ứng Westinghouse phục vụ công cuộc phổ biến điện hạt nhân
năm 1976 phó chủ tịch Marshall Evans nhớ lại: "chúng tôi hoảng hồn nhận ra rằng những công ty này đã điên cuồng cam kết việc kinh doanh vào những dự án lớn, quá đắt để có thể cạnh tranh"
sau này Westinghouse ổn định việc kinh doanh và bán lại công ty Pháp cho Kone ở Phần Lan, rồi đổi tên là Kone Westinghouse... toàn bộ thương vụ đã mất nhiều thời gian của các giám đốc Westinghouse bên cạnh một hạn mức tín dụng 500 triệu USD khẩn cấp
từ năm 1974 đến 1983 Westinghouse bán đi nhiều công ty con, trong đó có một phân nhánh đồ gia dụng [storied appliance], khiến Westinghouse cắt bớt 2.5 tỷ USD tổng doanh thu... có thể nói rằng việc bán mảng kinh doanh đồ gia dụng đã gián tiếp dẫn Westinghouse vào con đường khủng hoảng
một trong những thương vụ mua bán sáp nhập thành công của Westinghouse là hãng nước ngọt 7-Up kiếm được lượng lớn tiền mặt cho hãng, nhưng vẫn là thất bại chiến lược, vì chẳng liên quan gì đến lò phản ứng hạt nhân

Lạm phát
năm 1975 Burham bị buộc xin nghỉ, nhường chức chủ tịch cho Robert Kirby
năm 1974 Westinghouse bị 9 khách hàng điện nước [utility] kiện đòi 200 triệu USD bồi thường, cáo buộc những khuyết tật của tua-bin gây ra hư hỏng
hệ thống giao thông công cộng nhanh BART [Bay Area Rapid Transit] Vùng Vịnh San Francisco đã kiện Westinghouse làm hỏng những thiết bị điều khiển tự động
năm 1973 khủng hoảng dầu đã thay đổi mẫu hình [paradigm] luôn tăng nhu cầu điện năng, chuyển sang tập trung vào tiết kiệm và hiệu quả sử dụng điện, tăng trưởng Westinghouse giảm từ 7.5-8% mỗi năm xuống còn 1-2% mỗi năm
các doanh nghiệp điện nước [utility] không muốn tua-bin lớn nữa: nhu cầu, bị ảnh hưởng bởi lợi thế quy mô, đã dừng lại ở mức 1000-1300 megaWatt
cánh quạt tua-bin lớn đến nỗi, kim loại đã không thể chịu được áp lực và sức rung... trong 2 thập kỷ sau đó, tiến bộ công nghệ tua-bin hơi nước đã dừng lại
các hợp đồng Westinghouse ký kết với các doanh nghiệp điện nước [utility] có những điều khoản cố định giá bán, trong đó urani là sai lầm đắt giá nhất của Westinghouse bị gây ra bởi lạm phát
cuối thập niên 1960 Westinghouse bán cho các doanh nghiệp điện nước [utility] sản phẩm nhà máy hạt nhân "chìa khoá trao tay" đã bao gồm nhiên liệu urani được bán chủ yếu ở mức giá cố định
lưu ý là Westinghouse không sản xuất urani mà chỉ mua về để bán lại là một phần của gói sản phẩm, việc Westinghouse bán urani ở hợp đồng trả trước và mua urani ở mức giá giao ngay, thực tế Westinghouse đang bán khống
câu hỏi tại sao Westinghouse không ký trước những hợp đồng mua urani với các nhà cung cấp, để phục vụ các doanh nghiệp điện nước? Ý kiến chung cho rằng Westinghouse đã ỷ lại vào cơ quan quản lý hạt nhân Hoa Kỳ AEC [US Atomic Energy Commission] sẽ bán ra kho dự trữ urani của chính phủ
đến năm 1973 Westinghouse ký hợp đồng với 26 doanh nghiệp điện nước [utility] toàn cầu, cung cấp 65 triệu tấn urani trong 20 năm ở mức giá 20.943932 USD mỗi kg
năm 1975 sau khi các nước Ả Rập dừng xuất khẩu dầu sang các nước ủng hộ Israel, giá bán urani danh nghĩa đã leo lên đến 88.185 USD mỗi kg và khiến Westinghouse lỗ 2 tỷ USD
Westinghouse cắt đứt liên lạc với các doanh nghiệp điện nước, và bị các doanh nghiệp utility này kiện bắt thực hiện hợp đồng
hiển nhiên là Westinghouse thua kiện, nhưng những cuộc đàm phán và biến động giá urani sau đấy đã giúp Westinghouse chỉ lỗ 1 tỷ USD

Unimation
cuối thập niên 1970 đầu 1980 Westinghouse ổn định lại, chỉ còn là một tập đoàn năng lượng bình thường
nửa cuối thập niên 1970 Hoa Kỳ thoái trào năng lượng hạt nhân, sau sự cố Three Mile Island
Westinghouse vẫn trông cậy những mảng kinh doanh khác: tua-bin điện, hệ thống điện tử quân sự, phát sóng với những quyền phân phối và quảng cáo những show truyền hình ăn khách
năm 1954 Westinghouse thành lập công ty con cho vay mua đồ gia dụng, ví dụ tủ lạnh
năm 1960 John McClester vào làm cho Westinghouse Credit và giúp công ty gây dựng phân nhánh cho vay không-phải-người-tiêu-dùng, bấy giờ, vay của người tiêu dùng đã chiếm 1 nửa sổ sách kế toán của Westinghouse Credit và hãng cần khách mới để cho vay tiền
năm 1974 Westinghouse bán phân nhánh đồ gia dụng người-tiêu-dùng
năm 1981 Westinghouse Credit chào bán những khoản vay lãi-cao cho các doanh nghiệp và các nhà phát triển bất động sản, chủ yếu ở Texas
năm 1983 Westinghouse Credit báo lãi năm 50 triệu USD và bắt đầu cấp tín dụng cho các dự án bất động sản trên khắp Hoa Kỳ
giữa thập niên 1980 Westinghouse Electric mua lại Unimation chế tạo rôbôt thuỷ lực
robot Unimate gặp nhiều vấn đề rung chấn, hợp tác robot với General Motors đã không thành quả, toàn bộ phân nhánh phần mềm của công ty con này đã bỏ công ty
năm 1987 Westinghouse bán Unimation

Westinghouse Credit
năm 1987 Westinghouse Credit gấp 3 tốc độ giải ngân
năm 1989 Westinghouse Credit đóng góp 17% lợi nhuận tập đoàn, cao thứ 4 trong toàn hãng Westinghouse và trở thành công ty tài chính lớn thứ 3 Pittsburgh sau PNC Financial và ngân hàng Mellon
McClester và người kế nhiệm William Powe quản lý công ty con Westinghouse Credit như thể một thái ấp riêng, và được ca ngợi như những thiên tài
đầu thập niên 1990 ngân hàng đầu tư Drexel Burnham Lambert sụp đổ, chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 1 nổ ra
chủ tịch Paul Lego của Westinghouse Credit vốn là nhân viên ở ngành công nghiệp, không biết gì về ngành tài chính
William Powe vốn là nhân viên bán hàng, không quan tâm đến sản phẩm
sau này, nhân viên Westinghouse Credit nhớ lại rằng đã chấp thuận một khoản vay bằng 110% giá trị bất động sản, thậm chí Westinghouse Credit không có một bản phân tích danh mục theo kiểu bất động sản
cuối năm 1990 Paul Lego trấn an các nhà đầu tư rằng tình hình tín dụng vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát, hội đồng quản trị đã chấp nhận và trao tặng đủ tiền thưởng cuối năm cho các giám đốc
tháng 2 năm 1991 Westinghouse công bố ghi-giảm 975 triệu USD giá trị công ty con Credit trong quý thứ 4, theo đó đã ghi nhận 475 triệu USD lỗ
Paul Lego gạt bỏ lời khuyên của các giám đốc - những người đã biết rằng 975 triệu USD là chưa đủ - và cũng gạt lời khuyên của các ngân hàng chủ nợ, đề nghị tách ra những khoản nợ xấu hoặc bán đi công ty con
tháng 11 năm 1991 Westinghouse ghi-giảm thêm 1.75 tỷ USD, theo đó đã báo lỗ 1 tỷ USD và Paul Lego sa thải 5000 nhân viên
năm 1992 tổng nợ Westinghouse Credit đạt 5 tỷ USD trong khi Paul Lego và phần còn lại của tập đoàn Westinghouse từ chối trách nhiệm, cho rằng đây không phải lỗi họ
hội đồng quản trị Westinghouse trao cho Paul Lego cơ hội cuối cùng để bán Westinghouse Credit cho GE, trước đó GE đã 3 lần hỏi mua
tháng 1 năm 1993 hội đồng quản trị Westinghouse sa thải Lego
tháng 7 năm 1993 hội đồng Westinghouse chỉ định Michael H. Jordan kế nhiệm

Michael Jordan
sinh năm 1936, Michael Jordan có một sự nghiệp dài ở phân nhánh quốc tế của Pepsi trước khi trở thành giám đốc độc lập [outside CEO] của Westinghouse
không có gắn bó cảm xúc [sentimental attachment], Michael Jordan sa thải hàng nghìn nhân viên và bán đi những mảng kinh doanh phân phối thiết bị điện, bất động sản, nội thất văn phòng, thiết bị điện tử quốc phòng... mang về 5.5 tỷ USD tiền trả nợ
sau đó Jordan xác định rằng truyền hình cáp và dịch vụ phát sóng là những mảng kinh doanh lõi của Westinghouse, đồng thời ấp ủ ý tưởng một trùm truyền thông
Jordan chi 9 tỷ USD mua đài truyền hình CBS và đơn vị phát thanh Infinity Broadcasting
Westinghouse vẫn còn một phân nhánh sản xuất điện (cả điện truyền thống lẫn điện hạt nhân), công ty con Thermo King bán tủ lạnh tàu hoả và xe tải, một số hợp đồng công nghiệp và quốc phòng
mới đầu Jordan công bố Westinghouse sẽ tách 2 thành Westinghouse Electric và doanh nghiệp CBS, nhưng đã bị đè nặng bởi nợ từ việc mua lại những tài sản phát sóng
sau rốt Jordan bán những mảng kinh doanh công nghiệp, ví dụ Intersoll-Rand mua Thermo King với giá 2.5 tỷ USD
năm 1997 Westinghouse bán mảng kinh doanh sản xuất điện và tua-bin cho Siemens với gía 1.5 tỷ USD

CBS Corporation
hoạt động Westinghouse từ thập niên 1950 đến 1970 không mấy khi được để ý
dữ liệu của bài này chủ yếu có được nhờ nghiên cứu của Phó giáo sư Kenichi Miyata khoa quản trị kinh doanh, trường đại học Minh Trị [Meiji]
năm 1998 phân nhánh hạt nhân của CBS đã được mua lại bởi công ty năng lượng BNF [British Nuclear Fuels Limited]
BNF muốn gây dựng một doanh nghiệp hạt nhân toàn-bộ-ngăn-xếp [full stack] nhưng thiếu hỗ trợ chính phủ
năm 2006 BNF bán lại phân nhánh cho Toshiba với giá 5 tỷ USD và Westinghouse công bố 2 thiết kế mới Vogtle (Georgia) và VC Summer (Nam Carolina) dựa trên lò phản ứng AP1000 của hãng
hai dự án trên đã chậm tiến độ và bị đội vốn, một phần vì lựa chọn thiết kế sai lầm và những quy định mới ban hành sau thảm hoạ hạt nhân Fukushima, VC Summer đã bị huỷ
năm 2017 Westinghouse nộp đơn phá sản, suýt kéo theo Toshiba

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Máy tính Tandem

cuối thập niên 1970 Tandem Computers trình làng những chiếc máy tính, phục vụ các ngân hàng, sở giao dịch chứng khoán, các ngành công nghiệp...

Máy tính văn phòng
đầu thập niên 1970 Jim Treybig là giám đốc bán hàng ở tập đoàn Hewlett-Packard
sinh ra ở Texas, Treybig vào làm ở HP sau khi Texas Instruments giúp hãng này chào bán HP 3000
cấp trên của Jim Treybig ở HP là nhà đầu tư Tom Perkins
đối thủ của HP bấy giờ là IBM, một tập đoàn lớn, tích hợp dọc từ-trên-xuống, nguồn lực khủng, ràng-buộc phần mềm, lợi thế quy mô, lực lượng bán hàng [sales force]
đầu thập niên 1970 kinh tế khó khăn: giá năng lượng đắt đỏ, lạm phát, lãi suất 21%
năm 1974 những General Electric, NCR, RCA và Siemens đều đã bị đánh bật khỏi thị trường mainframe; còn lại IBM và những doanh nghiệp hoạt động ở thị trường ngách, ví dụ Digital Equipment, DEC phát triển những sản phẩm máy tính nhỏ VAX

Thời gian thực
thập niên 1960 nhân viên văn phòng làm việc xử lý vào ban ngày, máy tính sẽ xử lý những quy trình hậu trường theo những tác vụ "lố" [batch job] chạy ban đêm hoặc trong giờ nghỉ
ví dụ những tác vụ quan trọng như "ghi sổ" giao dịch trong ngày, hợp nhất những tài khoản khách hàng...
trong bài lịch sử lời nói ở trường đại học Stanford, Treybig nhớ lại đã thấy những dấu hiệu "vấn đề khó chịu" xuất hiện ở những hệ thống máy tính của các khách sạn Holiday Inn
đội ngũ Treybig tại HP đã ký được hợp đồng 50 máy tính cho khách sạn Holiday Inn xử lý vấn đề "ăn xong phắn" [dine and dash] những khách hàng đến nhận phòng chỉ để ăn sáng tại khách sạn rồi lập tức trả phòng
đơn đặt chỗ ăn sáng sẽ được ghi vào tài khoản của khách hàng vào ban đêm, thông qua một tác vụ xử lý "lố" [batch job] cho nên khách sạn đã không biết để tính tiền bữa ăn cho khách hàng
một vấn đề tương tự đã xảy ra với ATM
nửa đầu thập niên 1970 cây ATM được lắp bên trong hoặc bên ngoài một chi nhánh ngân hàng và hoạt động trong một khoảng thời gian giới hạn, để các ngân hàng tạo sự riêng biệt [differentiate] và khiến các khách hàng đi qua cửa để ngân hàng có thể "bán hàng gia tăng" những sản phẩm khác, ví dụ vay
một nửa số cây ATM "ngoại tuyến" tức là chạy cục bộ và không kết nối với sổ cái trung tâm
Traybig nhớ lại, tại thành phố Phoenix, kẻ gian đã đi đến nhiều cây ATM trong đêm và rút 10 USD từ mỗi cây; giao dịch 10 USD chỉ được lưu 'cục bộ' tại cây ATM và phải sau này mới được gửi dữ liệu đến sổ cái trung tâm, kẻ gian có thể rút quá số tiền có trong tài khoản của một người
vấn đề đặt ra là làm thế nào để xử lý và gửi dữ liệu giao dịch đến sổ cái trong thời gian thực, không cần con người can thiệp

Kình lạc
khi một máy tính thực hiện những tác vụ "lố" [batch], nếu hỏng hóc, người dùng chỉ cần khởi động lại hệ thống
cách này hiệu quả, nhưng lãng phí thời gian: người dùng nhận thấy hư hỏng, chụp lại [snapshot] mã lỗi, khởi động lại... mất đâu đó 1-2 giờ
hầu hết các hệ thống có 99.6% tính khả dụng, tức là sẽ hư hỏng 1 lần trong mỗi 1-2 tuần
cuối năm 1968 các sở giao dịch chứng khoán đã thường xuyên đóng cửa vào Thứ Tư chỉ để xử lý công việc giấy tờ
kể cả nếu những hư hỏng máy tính có thể được sửa chữa và hồi phục nhanh, người ta vẫn cần đảm bảo rằng không dữ liệu nào bị sai lệch

Dự phòng
Treybig nhớ lại: "năm 1973 có 2 hệ thống IBM trên một tờ báo và người ta sẽ bấm lỗ băng giấy lưu những bài báo cho tờ báo, rồi sẽ nhập nó vào một máy tính, rồi sẽ thiết lập kiểu"
"nếu máy tính hỏng, họ sẽ lấy băng giấy... đem đến một máy tính khác và nhập nó vào. Ấy chính là một hệ thống khả-năng-chịu-lỗi"
các doanh nghiệp khác đã thử tuỷ chỉnh, bằng cách thêm nhiều bộ xử lý, vào một hệ thống đơn nhân: nếu một bộ xử lý bị hỏng, hệ thống có thể hoán-đổi-nóng sang một bộ xử lý khác đang ở trạng thái chờ [standby]
vẫn là thiết kế đơn nhân, sau khi được tuỳ chỉnh, vẫn còn những điểm hư hỏng phần cứng duy nhất [single hardware point of failure] có thể làm sụp hệ thống
ví dụ bus chuyển I/O [I/O bus switch] là đường truyền tín hiệu điện kết nối vi xử lý với các thiết bị ngoại vi
hoặc bộ điều khiển I/O phiên dịch lệnh của vi xử lý
hoặc mô đun bộ nhớ RAM
ngân hàng Hoa Kỳ uỷ thác một doanh nghiệp việc sản xuất một "cụm" máy tính nhỏ để xử lý ATM, tức là nhiều phần mềm đặt-làm-riêng đắt đỏ

Chìa khoá trao tay
Treybig đưa lên ban lãnh đạo HP ý tưởng một máy tính được-phát-triển-từ-con-số-0 có thể hoạt động liên tục
nguồn thu nhập chính [bread and butter] của HP bấy giờ là những công cụ khoa học
năm 1973 Tom Perkins rời HP và khởi nghiệp doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm Kleiner Perkins cùng với đồng sáng lập Eugene Kleiner của Fairchild Semiconductor
mới đầu Tom Perkins đầu tư 50 000 USD cho ý tưởng của Treybig đồng thời đề nghị Treybig làm đối tác tại Kleiner Perkins giúp lập kế hoạch kinh doanh và soạn bài giới thiệu, thậm chí Tom Perkins dẫn Treybig đến Brooks Brothers mua tặng bộ áo vest
năm 1974 thành lập Tandem Computers, sau đó đã gọi được 3 triệu USD vốn nữa từ những nhà đầu tư Kleiner và người khác, và săn trộm nhiều nhân sự HP sang làm
đầu tháng 12 năm 1975 Tandem công bố Tandem/16 NonStop, sau gọi ngắn là NonStop I
Treybig so sánh triết lý của hệ thống với một máy bay: "một máy bay có thể có 1 động cơ và bay với tốc độ 600 dặm 1 giờ. Hoặc nó có thể có 2 động cơ và bay 600 dặm 1 giờ, nhưng nếu hư hỏng 1 động cơ, nó vẫn giữ tốc độ 300 dặm 1 giờ"
"ý tưởng là có những mô đun sẽ hoạt động cùng nhau để thực thi khối lượng công việc, và anh phải mua một máy tính phục vụ khối lượng công việc cao nhất [peak] để khi nó hư hỏng, hầu hết thời gian, nó sẽ không bị chậm lại"
NonStop I bao gồm 2-16 mô-đun bộ xử lý. mỗi mô-đun trang bị một bộ xử lý silic, bộ nhớ, I/0 và một bản sao của hệ điều hành... tất cả hoạt động độc lập với nhau, có nguồn điện và pin dự phòng riêng
những bộ xử lý này được kết nối qua 2 bus liên-bộ-xử-lý độc lập, gọi là DynaBus

Phần mềm Tandem
NonStop chạy hệ điều hành Tandem Transactional Operating System, sau đổi tên là Guardian
Tandem tiếp cận phần mềm NonStop dựa trên một số khái niệm "lõi": chuyền tin nhắn [message-passing], hỏng nhanh [failing fast], những cặp xử lý [process pair]
chuyền-tin-nhắn: vì bộ nhớ chung có thể hỏng, các mô-dun liên lạc với nhau bằng những tin nhắn 16-bit gửi qua DynaBus
hỏng nhanh: khi một mô-dun nhận thấy bản thân hỏng, nó tự chạy tác vụ shut down và chờ đến khi được tải lại [reload] giống như những tế bào sinh vật làm khi chúng đột biến
cặp xử lý: tất cả chương trình đều được chạy bởi 2 mô-đun bộ xử lý, 1 bộ xử lý chính và 1 bộ xử lý dự phòng, hoạt động không đồng bộ [asynchronous]
trước những sự kiện nhất định, mô-dun chính thường xuyên "lưu" [checkpoint] thông tin trạng thái của nó vào mô-đun dự phòng, bằng cách gửi tin nhắn
lập trình viên sẽ lập trình mô-đun khi nào gửi thông tin trạng thái "lưu"
mỗi giây, các mô-đun quét trạng thái của chính nó: nếu ổn, mô-đun gửi một tin nhắn đặc biệt qua 2 DynaBus thông báo rằng chúng "còn sống"; thậm chí, mô-dun tự gửi tin cho chính mình để xem xem bus có đang hoạt động hay không
mỗi mô-đun bộ xử lý sẽ xem một tin nhắn "tôi còn sống" được gửi từ mô-đun hàng xóm: nếu không nhận được tin nhắn ấy từ 1 mô-đun trong 2 chu kỳ, mô-đun ấy sẽ bị cho là đã hỏng và sẽ tự shut down
thỉnh thoảng, tin nhắn "tôi còn sống" được gửi đến muộn, có thể vì lỗi hoặc mất điện, rủi ro là một số mô-đun bộ xử lý sẽ cho rằng hư hỏng, trong khi những mô-đun khác không... có thể dẫn đến não-bị-chia-đôi và dữ liệu bị sai lệch
Tandem tạo ra thuật toán "regroup" tập hợp lại các mô-đun bộ xử lý và bỏ phiếu xem xem liệu mô-đun đã thực sự "quay lại" làm việc chưa
sau 2 lượt "regroup", các mô-đun đi đến thống nhất
cách tiếp cận xoay-quanh-phần-mềm này đã gây ra vấn đề cho các nhà cung cấp ứng dụng: một là tìm hiểu cách thức "lưu" ứng dụng, đảm bảo node chính thường xuyên cập nhật node dự phòng
các lập trình viên ứng dụng đã phải học ngôn ngữ độc quyền Tandem như Tandem Application Language cho những thứ cấp-hệ-thống và Screen COBOL cho những thứ cấp-ứng-dụng

Automated Teller Machine
tháng 12 năm 1975 tờ Business Week đăng bài luận về tầm quan trọng và cơ hội thị trường của những máy tính "an toàn khi lỗi"
bấy giờ Tandem/16 chưa đi vào sản xuất hàng loạt, bài báo Business Week tập trung vào Treybig, các nhà đầu tư và đội ngũ nhân sự HP
tháng 5 năm 1976 Citibank nhận đơn hàng Tandem đầu tiên, nhưng Treybig nói rằng Citibank đã không bao giờ thực sự sử dụng NonStop, rằng Citibank chỉ mua máy để cập nhật xu hướng công nghệ
nửa cuối thập niên 1970 ATM giúp các ngân hàng trong và ngoài Hoa Kỳ cung cấp dịch vụ mà không cần thuê lao động, thời điểm lạm phát chi phí lao động
Citibank và Chase Manhattan tích cực quảng bá phổ cập ATM, rồi những trận bão tuyết đã khiến các ngân hàng đóng cửa, buộc khách phải rút tiền ATM
khả năng chạy liên tục 24/7 của những máy NonStop cũng giúp khách dần dần tin tưởng cây ATM sẽ không nuốt thẻ giữa chừng
năm 1978 Hoa Kỳ có 10 vạn ATM
năm 1990 Hoa Kỳ có 8 vạn ATM tạo điều kiện 450 triệu giao dịch ghi nợ mỗi tháng
năm 1977 Tandem đạt 7.7 triệu USD doanh thu, tháng 12 phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, Tandem là 1 trong 2 thương vụ thành công đầu tiên của quỹ mạo hiểm Kleiner Perkins, bên cạnh doanh nghiệp công nghệ sinh học Genentech

Chuyển khoản
kết nối với một sổ cái trung tâm, cây ATM không cần đặt ở chi nhánh ngân hàng nữa, có thể để ở trạm xe lửa, tạp hoá, sân bay... các ngân hàng nhận thấy rằng có thể chia sẻ mạng lưới ATM và chia sẻ chi phí lắp đặt
đầu thập niên 1980 xuất hiện những mạng ATM vùng, ví dụ Yanke24 ở tiểu bang New England, NYCE ở tiểu bang New York
năm 1985 toà án Hoa Kỳ phán rằng ATM không phải chi nhánh ngân hàng, cho phép mạng mở rộng xuyên biên giới tiểu bang, trở thành những mạng liên bang STAR, PULSE, Cirrus...
hậu trường ETF [electronic funds transfer], mạng sử dụng những công tắc chuyển mạch [switch] định tuyến và thông qua những lệnh chuyển tiền
là bộ chia mạng giao dịch của mạng ATM, bộ chuyển mạch [switch] không được hỏng, phục vụ khách rút tiền, không được xảy ra hiện tượng ATM nuốt thẻ
Cirrus sử dụng hệ thống NonStop II, mạng Visa và mạng Mastercard cũng sử dụng Tandem và mang NonStop đến Châu Á, Nam Mỹ và Châu Âu
năm 1981 kho bạc Hoa Kỳ sử dụng NonStop cho mạng EFT có thể chuyển khoản điện tử 100 tỷ USD
Malaysia có một nhà phân phối riêng Tandem phục vụ ngân hàng và các tổ chức tài chính Đông Nam Á
năm 1982 Tandem đạt 312 triệu USD doanh thu

Khách hàng doanh nghiệp
Tandem trả thưởng cho nhân viên bằng quyền chọn mua cổ phiếu (ESOP) [employee stock ownership plan]
giữa năm 1982, 24 nhân viên Tandem trở thành triệu phú đô la, 100 nhân viên khác sở hữu cổ phiếu trị giá hơn nửa triệu USD
nhân viên Tandem được hưởng giờ làm việc linh hoạt, những chính sách "cửa mở", nghỉ phép dài hạn 4 năm 1 lần
mỗi chi nhánh Tandem tổ chức hội họp uống bia ăn bỏng ngô vào chiều Thứ 6 hằng tuần, trụ sở Cupertino có bể bơi
cuối thập niên 1970 đầu 1980 tỷ lệ thay đổi nhân viên Tandem chỉ 8%, bằng một phần tư tỷ lệ trung bình các doanh nghiệp công nghệ Bắc Mỹ

Stratus
năm 1980 một cựu nhân viên Tandem sáng lập Stratus chào bán giải pháp chỉ-có-phần-cứng Lockstep
với Lockstep, những cặp vi xử lý Motorola bán ngoài chợ sẽ chạy cùng 1 tác vụ: kết quả sẽ được đánh giá, nếu có khác biệt, cặp ấy sẽ bị shut down cho một cặp khác tiếp nhận công việc
máy Stratus giá thành 200 000 USD, rẻ hơn máy Tandem giá thành nhiều triệu USD
máy Stratus đạt được khả-năng-chịu-lỗi mà không cần áp dụng những ý tưởng phần mềm phức tạp Tandem: ví dụ checkpoint
năm 1982 giám đốc kỹ thuật sản phẩm Nicholas J.Bologna của Stratus trả lời tờ báo New York Times: "nhiều năm Tandum tuyên bố 6-năm đi trước ở lĩnh vực này nhờ vào phần mềm của hãng... chúng tôi nhảy cóc khoảng cách ấy bằng cách không cần phần mềm"
kỹ sư phần mềm Jim Gray của Tandem phản ứng rằng Lockstep xử lý được những hư hỏng phần cứng, nhưng không làm gì được những hư hỏng phần mềm... 2 vi xử lý sẽ chạy bug giống nhau
Tandem điều chỉnh cách tiếp cận kỹ thuật, Gray bỏ công việc "lưu" [checkpoint] thủ công, nhận thấy việc này làm khó các lập trình viên
năm 1982 doanh thu Tandem giảm 50%
năm 1983 doanh thu Tandem giảm 34%
năm 1984 doanh thu Tandem giảm 27%
tháng 5 năm 1984 Tandem công bố, lợi nhuận sẽ giảm 70% so với năm ngoái, giá cổ phiếu Tandem lập tức giảm 25%
tháng 10 năm 1984 cơ quan quản lý chứng khoán Hoa Kỳ cáo buộc Tandem thổi phồng lãi, bằng cách "nhận vơ" một số đơn hàng; vụ kiện đã được giàn xếp nhẹ nhàng
Treybig tăng cường họp nội bộ, bắt các giám đốc chịu trách nhiệm, ban hành thêm những lệnh trực tiếp, thay vì đi đến thống nhất
một nhóm kiểm toán đã được tách-ra công ty riêng, lương bị đóng băng, các quy trình sản xuất đã được cải tiến, chi phí bị cắt giảm
Treybig ký hợp đồng đối tác với Motorola để giảm chi phí R&D sản phẩm mới, ví dụ chip Tandem VLX trang bị mainframe bình dân NonStop EXT bày bán năm 1986, cùng những khách hàng mới như Texaco, GTE Corporation và Ban tư lệnh Hậu cần Không quân Hoa Kỳ
năm 1986 biên lãi gộp Tandem tăng 68%, lãi tăng 148%

Phần cứng chạy được là tốt rồi
chủ tịch William Foster giải thích: cuối thập niên 1970 phần cứng máy tính đắt hơn phần mềm, Tandem có thể bán cách tiếp cận xoay-quanh-phần-mềm cho một giải pháp khả-năng-chịu-lỗi
phần cứng đã rẻ hơn và đáng tin cậy hơn, phần mềm đã đắt hơn, lương lập trình viên đã tăng
lạm phát phần mềm, các doanh nghiệp đã muốn port ứng dụng, từ phần cứng này sang phần cứng khác; ứng dụng được phát triển trên những nền tảng mở, ví dụ UNIX, để dễ chuyển sang phần cứng mới
vấn đề là những giải pháp Tandem đều là độc quyền: nếu không có nhu cầu lớn, chẳng ai mua phần cứng Tandem độc quyền và phát triển trên hệ điều hành Guardian độc quyền
năm 1987 Tandem mất hợp đồng 1 tỷ USD phát triển hệ thống thông tin y tế tích hợp [Composite Health Care System] là hệ thống IT phi tập trung của Bộ Cựu chiến binh Hoa Kỳ [Veterans Administration] vào tay SAIC [Science Applications International Corporation] vì VA muốn phát triển trên những tiêu chuẩn mở UNIX hoặc MUMPS

Mở stack độc quyền
năm 1987 Treybig trả lời phỏng vấn: "tôi từng không thích 'thị trường ngách'... nhưng tôi không nghĩ nó tiêu cực. Chúng tôi đang chọn thị trường ngách. Bằng cách chọn chiến trường và giành chiến thắng, chúng tôi có thể trở thành một doanh nghiệp lời lãi"
Tandem ký hợp đồng đối tác, gia nhập nhiều chuỗi cung ứng "dọc" và đa dạng hoá sản phẩm khỏi tài chính ngân hàng, nhắm đến khách hàng chính phủ, viễn thông, bán lẻ và vận tải
cuối thập niên 1980 hơn 24 sở giao dịch chứng khoán - sàn phái sinh Chicago, sàn điện tử NASDAQ, sở Hồng Kong, sở chứng khoán New Zealand - chọn Tandem cho nhu cầu giao dịch
năm 1988 Tandem chi 280 triệu USD mua doanh nghiệp Ungermann-Bass với hi vọng tận dụng chuyên môn mạng LAN của Ungermann-Bass để mở rộng theo chiều ngang
năm 1987 vẫn cuộc phỏng vấn trên, Treybig thừa nhận rằng Tandem có chút cô lập và tập-trung-quá [over-index] vào những khách hàng tổ chức lớn
"chúng tôi không hiệu quả với những tổ chức thứ 3. Chúng tôi không phát triển sản phẩm cho phân khúc thấp hơn, ấy là một sai lầm chiến lược"
Tandem trình làng loạt máy trạm Dynamite chạy hệ điều hành MS-DOS nhưng không tương thích hệ sinh thái IBM cho nên thất bại
1 năm sau đó Tandem thay thế Dynamite bằng một máy trạm tương thích máy tính cá nhân AT
ngày 21 tháng 4 năm 1987 Tandem chi nhánh Anh trình làng NonStop CLX và chiếc LXN, trong đó NonStop CLX bán với giá 57000 USD là sản phẩm rẻ nhất loạt sản phẩm Tandem
trình làng CLX sau khi Tandem nhận thấy các ngân hàng lớn sẵn lòng mua mainframe NonStop cho các trụ sở, nhưng ngần ngừ mua cho các văn phòng khu vực
NonStop CLX lần đầu tiên trang bị chip CMOS, tự Tandem thiết kế và được đúc [fab] trên công nghệ VLSI
chiếc LXN là máy Tandem đầu tiên chạy hệ sinh thái UNIX trong khi còn lại vẫn chạy hệ điều hành Guardian

Cơ sở dữ liệu
năm 1987 Tandem trình làng NonStop SQL thay thế phần mềm cơ sở dữ liệu Encompass cũ
NonStop SQL nổi tiếng với khả năng túc trực hoạt động và khả năng mở rộng tuyến tính, vẫn được sử dụng ngày nay ở một số ứng dụng tài chính
tháng 5 năm 1989 Tandem đánh bại IBM trong vụ đấu thầu trực-diện cho một hợp đồng lớn cho California DMV sau khi NonStop SQL đánh bại DB2 ở 5 trong số 7 tiêu chí kỹ thuật, trong khi Tandem bỏ thầu với giá chưa đến 1 nửa IBM

Cyclone
tháng 10 năm 1989 Tandem trình làng NonStop Cyclone cạnh tranh mainframe IBM
yếu tố khác biệt của Cyclone là kiến trúc xử lý siêu vô hướng [superscalar] không cần tăng xung nhịp, trong khi vẫn giữ được khả-năng-chịu-lỗi danh tiếng của NonStop và thêm những công nghệ mới vào đó
những dự phòng RAM "khủng" đã được lắp vào những bo mạch chủ, nâng cấp những dây nối trong [interconnect] DynaBus từ dây đồng lên dây cáp quang, tủ máy [cabinet] có nguồn điện dự phòng riêng
tủ máy [cabinet] được thiết kế cẩn thận để tối thiểu dây cáp để hoán-đổi-nóng dễ dàng hơn khi thay thế
khán giả đã nhớ rằng Cyclone đồ sộ và ấn tượng, với những tủ máy [cabinet] đen và những quạt gió ồn ào, được bán với mức giá bằng 1 phần 3 IBM
trước đấy, hệ thống Tandem chỉ thu thập dữ liệu; với Cyclone, hãng muốn mọi người biết rằng hãng có phần cứng "Sắt Lớn" và phần mềm cơ sở dữ liệu, có thể thực thi các tác vụ lên tất cả dữ liệu
ngày 16 tháng 10 năm 1989 nhà phân tích Jeffrey Beeler của DataQuest trả lời phỏng vấn ComputerWorld: "Tandem đi vào giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc cách mạng doanh nghiệp của hãng. Thay vì yêu cầu người dùng trao cho hãng những giao dịch mà trước đấy chạy trên IBM, họ nói 'cứ đưa hết cho chúng tôi'."
hợp đồng California DMV trở thành một thảm hoạ 49 triệu USD kéo dài 7 năm, 4 nhân viên DMV bị xử phạt tội gian lận, những máy mainframe Cyclone trị giá 18 triệu USD đã bị bán thanh lý ở mức dưới 10% giá mua ban đầu

Phổ thông hoá
năm 1989 một khách hàng điện thoại, tích luỹ 100 triệu USD doanh thu, có lẽ là AT&T, nói Tandem chuyển sang UNIX hoặc sẽ bỏ đi
trước đấy Tandum có trình làng một sản phẩm UNIX nhỏ, các giám đốc Tandem nhận thấy rằng hệ sinh thái Guardian là thứ giữ chân khách mua phần cứng Tandem
Treybig nói: "mở là chết" - hàm ý rằng nếu Tandem chuyển sang UNIX mã nguồn mở và viết lại [port] ứng dụng sang UNIX, khách hàng sẽ chạy sang bất cứ nhà cung cấp tương-thích-UNIX nào chào thầu rẻ nhất
đối phó lời doạ dẫm của khách, Tandem thêm một đơn vị lưu kho SKU bình dân [stock keeping unit] vào danh mục sản phẩm, chứ không chuyển đổi toàn-diện [full-throated]
tháng 3 năm 1989 Tandem tuyên bố Integrity S2 là mainframe UNIX khả-năng-chịu-lỗi đầu tiên, trang bị chip RISC của MIPS Technologies và chạy hệ điều hành System V UNIX
Integrity S2 sử dụng những chip bán ngoài chợ [off-the-shelf], tài liệu kỹ thuật Integrity S2 liệt kê những cải tiến, ví dụ, ý tưởng "thời gian ảo" [virtual time] đồng bộ 3 CPU không-lockstep dựa vào những nhịp đếm lệnh [instruction count] thay vì những xung nhịp
sớm sau khi Integrity S2 được trình làng, Treybig nói: "nhiều doanh nghiệp đã cố phát triển hệ thống túc-trực với UNIX nhưng không thành. Chúng tôi đã làm được"
tháng 1 năm 1990 mở bán Integrity S2 hấp dẫn những doanh nghiệp viễn thông, AT&T ký hợp đồng đối tác với Tandem và quảng cáo mainframe của hãng cho nhiều đối tác chính phủ và công nghệ
cuối tháng 10 năm 1989 Tandem công bố tăng trưởng 24% doanh thu lên đến 1.6 tỷ USD, lãi tăng đến 119 triệu USD
từ tháng 3 năm 1989 đến tháng 1 năm 1990 cổ phiếu Tandem tăng 40% giá bán
Treybig trả lời tờ SF Chronicle: "tôi cảm thấy nhẹ nhõm nhất trong 8 năm qua"

Mainframe thoái trào
tháng 2 năm 1990 ngân hàng đầu tư Drexel Burnham Lambert của vua trái phiếu rác Mike Milken công bố phá sản
thị trường chủ chốt của Tandem không thể biện minh việc chi tiêu 2 triệu USD mua mainframe nữa, trong khi DEC và Stratus, thậm chí IBM, thi nhau giảm giá
tháng 4 năm 1990 Tandem công bố giảm lãi so với quý trước, cổ phiếu Tandem lập tức giảm 17%
tháng 8 năm 1990 chiến tranh Vùng Vịnh nổ ra khi Iraq đánh Kuwait, giá dầu tăng vọt
tháng 9 năm 1990 kết thúc năm tài khoá công ty, giảm đốc Tandem kỳ vọng một năm tăng trưởng 0, lãi giảm và lần đầu tiên sa thải nhân sự kể từ năm 1974
đầu tháng 9 năm 1990 Treybig nói: "có thể nói rằng Vương quốc Anh là thảm hoạ, và ở mức độ nào đó thì Đông Nam Hoa Kỳ cũng thế"
mặc dù Hoa Kỳ hồi phục kinh tế sau 1 năm, tỷ lệ việc làm đã không hồi phục nhanh bằng, có lẽ vì hoạt động xây dựng trì trệ, thị trường bất động sản yếu ớt và làn sóng sa thải nhân lực quốc phòng
năm 1990-1991 Tandem tăng trưởng 1.9 tỷ USD, các khách hàng đã chuyển sang mua những hệ thống UNIX phổ thông của HP và DEC

Himalaya
năm 1991 Tandem hoãn Himalaya kế nhiệm Cyclone đến cuối năm 1993 trong khi các khách hàng lục đục bỏ đi, bao gồm Wells Fargo trụ sở San Francisco
Himalaya được chấm điểm nhanh gấp đôi Cyclone
phần mềm NonStop Kernel của Himalaya hỗ trợ hệ điều hành Guardian và những ứng dụng UNIX môi-trường-POSIX
không hoàn toàn viết lại [port] sang UNIX, Tandem cho rằng khả năng chạy ứng dụng trên cả 2 hệ sinh thái sẽ xoa dịu khách hàng
nhưng Treybig quyết định "vắt sữa" bò Cyclone cũ, trong khi giữ im lặng về việc phát triển "bò" mới Himalaya từ năm 1991 đến năm 1993 khiến các khách hàng thấy Tandem không làm gì hết ở mặt trận sản phẩm, trong khi Tandem sa thải 900 nhân sự
giữa năm 1993 họp với doanh nghiệp phân tích META Group, Treybig nhấn mạnh rằng hãng đã có những sai lầm nghiêm trọng, rằng 2 ngân hàng Luân Đôn sẵn sàng bỏ đi
cho nên, giữa năm 1993 Treybig công bố Himalaya, gọi đây là Tendam hướng đến những kiến trúc "máy khách - máy chủ" trong đó NonStop tạo điều kiện những dịch vụ thư điện tử, chia sẻ tệp... trực tuyến
hiệu năng Himalaya gấp 2 lần Cyclone trong khi giá bán chỉ bằng 1/3 đến 1/6, nhưng Himalaya chưa được bán, cho nên doanh số Cyclone sụp đổ
tháng 7 năm 1993 Tandem báo lỗ quý 550 triệu USD trong đó 450 triệu USD xoá-sổ và chi phí liên quan đến việc đóng cửa nhà máy, hợp nhất và sa thải 1800 nhân viên, tương đương 15% nhân sự
Treybig phát biểu rằng ông đã cố gắng trì hoãn, nhưng: "tuy nhiên, chúng tôi biết rằng việc trở thành một nhà cung cấp bình dân sẽ cần áp dụng một mô hình doanh nghiệp mới, nếu chúng tôi muốn đạt những mục tiêu lợi nhuận... việc này không chỉ cần cắt giảm chi phí; nó cần tái-thiết-kế việc kinh doanh, thay đổi văn hoá, và tiếp tục giảm cơ cấu chi phí"
quý 3 năm 1993 bán được 500 Himalaya, gấp đôi doanh số 2 quý trước cộng lại, hấp dẫn khách tài chính ngân hàng, nhờ khả năng kết nối cụm [cluster]

Lấy con người làm trọng tâm
kỷ nguyên mới của phần cứng phổ thông, hệ thống mở và những cụm phân phối
tháng 10 năm 1995 sau một quý tài khoá thất bại nữa, Tandem công bố thay đổi lãnh đạo, và Treybig từ chức
một tháng sau, Tandem chỉ định giám đốc bán hàng Roel Pieper đứng đầu công ty con UB Networks làm CEO; công ty con UB Networks là Ungermann-Bass cũ và đã được Roel Pieper vực dậy
Roel Pieper hướng Tandem trở thành công ty phần mềm, bằng cách đưa công nghệ độc quyền Tandem rời bỏ Guardian và chia ra càng nhiều "tay" càng tốt
năm 1996 Roel Pieper nói: "công ty ở một vị thế: công nghệ giàu có, nhưng có thể là, hình ảnh nghèo nàn"
những công nghệ Tandem gồm có một đường dẫn ServerNet thay thế bus liên-bộ-xử-lý DynaBus trước đó độc quyền cho hệ điều hành Guardian
Roel Pieper chia sẻ ServerNet cho hãng máy tính cá nhân Compaq là một phần của chiến lược nhảy vào thị trường máy chủ Windows NT và đưa ServerNet trở thành tiêu chuẩn thương mại
tháng 5 năm 1996 Tandem ký hợp đồng đối tác Microsoft phát triển hệ điều hành máy chủ NT
Microsoft trả 30 triệu USD mua khả-năng-chịu-lỗi Tandem để tích hợp vào NT, trong khi Tandem viết lại [port] NonStop SQP sang NT và bán những máy chủ Windows NT NonStop trang bị chip Intel
bấy giờ 70% doanh thu Tandem vẫn đến từ những hệ thống độc quyền, việc "viết lại" [port] sang một nền tảng khác là một rủi ro cho công ty
Tandem trấn an những khách hàng cũ rằng hãng vẫn hỗ trợ Himalaya trong khi có những "lộ trình" di chuyển sang NT
một Phó chủ tịch Tandem giải thích rằng "cách cũ" đưa công ty vào thế kẹt: "trước đây, chiến lược của chúng tôi là cải tiến Himalaya cho rẻ đi... nhưng nền tảng ấy chỉ có thể rẻ đến thế thôi"
"giờ [Pieper đã] đưa Tandem ra khỏi thế kẹt. Chúng tôi cho rằng có thể vừa cạnh tranh vừa hợp tác với một đối thủ cạnh tranh"
bên ngoài, một nhà phân tích cho rằng Tandem đang bán viên ngọc vương miện
nhà phân tích khác nói Tandem cần "cú sốc" này để nghĩ như một doanh nghiệp phần mềm

Mua bán sáp nhập
tháng 6 năm 1997 Compaq mua lại Tandem với giá 3 tỷ USD bằng cổ phiếu, định giá "cao cấp" thêm 50% so với thị trường
giám đốc Eckhard Pfeiffer muốn mở rộng Compaq sang khách hàng doanh nghiệp, thêm 4000 nhân viên bán hàng Tandem vào đội ngũ 2000 nhân viên bán hàng Compaq
bấy giờ Compaq đang "nuốt" thương vụ mua lại DEC với giá 9.6 tỷ USD

Trở về Hewlett-Packard
ngày 4 tháng 9 năm 2001 HP mua lại Compaq và định vị Tandem là một thương hiệu khả-năng-chịu-lỗi xịn xò trong danh mục sản phẩm của hãng, trang bị chip Intel Itanium
năm 2014 HP trình làng NonStop X trang bị chip Intel Xeon
năm 2015 HP tách làm 2 công ty HP và HPE, Tandem đi theo HPE đến nay, tiếp tục trang bị chip Intel Xeon và chạy cơ sở hạ tầng IT cấp thiết, ví dụ Visa, MasterCard và cây ATM

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Bàn tay Belgrade

bàn tay con người có 35 bộ truyền động [actuator] hay "cơ bắp"
trong đó 19 cơ bắp ở bên trong bàn tay, thực hiện những cử động chính xác, ví dụ: khép ngón tay, duỗi ngón
16 cơ bắp nữa nằm ngoài bàn tay, kết nối nhờ "gân" [tendon] cấp năng lượng thực hiện những động tác bám, nâng
đầu thập niên 1960 nhà khoa học Rajko Tomovic người Nam Tư ở viện Mihajlo Pupin tìm giải pháp bàn tay rôbot bằng cách nhìn vào sinh vật
Rajko Tomovic tạo ra bàn tay robot 5 ngón đầu tiên, có thể thực hiện những động tác chính xác

Tay giả
tháng 11 năm 1919 sinh ra ở Baja (Hungary), Tomovic năm 1936 học trung học ở Belgrade nơi gia đình ông di cư đến
theo học kỹ thuật điện ở trường đại học Belgrade, việc học của Tomovic bị gián đoạn bởi Thế chiến 2
Tomovic vào đảng cộng sản Nam Tư đấu tranh chống Phát xít Đức, bị bắt và đưa đi lao động cải tạo, có lúc đã làm ở mỏ
thế chiến 2 kết thúc, Tomovic thăng chức đội trưởng [captain] quân đội Nam Tư
sau Thế chiến, Tomovic trở về trường đại học Belgrade nghiên cứu tiến sĩ, ngành máy tính tuần tự, rồi làm việc trong 1 thập kỷ ở viện nghiên cứu hạt nhân Nam Tư ở Vinca
năm 1960 Tito dừng chương trình hạt nhân Nam Tư, Tomovic rời Vinca
năm 1961 Tomovic làm cho UCLA với tư cách học giả thỉnh giảng, rồi gia nhập Học viện Mihajlo Pupin
tại Mihajlo Pupin, Tomovic tham gia sản xuất máy tính CER-10 trang bị ống chân không và bóng bán dẫn
sau đó Tomovic chuyển sang phát triển những bộ phận giả, được cho là trợ giúp những cựu chiến binh Thế chiến

Điện sinh cơ
năm 218 trước Công nguyên, tướng Marcus Sergius được lắp một tay giả được làm bằng sắt, cho phép vị tướng La Mã cầm khiên ở trận chiến chống lại tướng Hannibal của đế quốc Carthage
thế kỷ 16, Goetz Von Berlichingen (Đức) và Ambroise Paré (Pháp) làm 2 tay sắt; truyền lực bởi lò xo, đòn bẩy [lever] và bánh răng, người dùng có thể thực hiện động tác túm chặt, bằng những động tác "gồng" của ngực hoặc cánh tay
thập niên 1910 tiến sĩ phẫu thuật Ferdinand Sauerbruch người Đức tạo ra một tay giả, được điều khiển bởi những đinh ghim [pin] được gắn "phẫu thuật" vào cẳng tay [forearm]
tay giả Ferdinand Sauerbruch không được sử dụng, phần vì lý do chi phí, phần vì những nhiễm trùng và viêm nhiễm... xuất phát từ những chuẩn bị phẫu thuật cần thiết cho bộ phận giả [stump]
thập niên 1940 và 1950 Đức và Liên Xô có những nghiên cứu cho ý tưởng "điều khiển bởi tín hiệu cơ bắp"
một người tiên phong cho ý tưởng này là Ljudevit Vodovnik ở Slovenia, đã hợp tác với Học viện công nghệ Case ở Cleveland để tiên phong những ứng dụng hỗ trợ
ngay ở những hệ thống "điều khiển bởi tín hiệu cơ bắp" sơ khai này, người dùng đã có thể điều khiển để thực thi những chuỗi đã-xác-định-trước để biểu diễn một hành động đơn giản, căn bản là những máy nhặt rác

Lỗi
Tomovic cho rằng, mặc dù những bộ phận và mạch điện của tay giả đã cải thiện từ sau Thế chiến 2, lý thuyết toán học để điều khiển chúng vẫn bị lạc hậu
năm 1965 Tomovic trả lời báo chí Mỹ: "chúng tôi không quan tâm việc thay đổi 'phần cứng', thay vào đấy, chúng tôi đang nghiên cứu những kỹ thuật toán mới trong việc sử dụng máy tính"
Tomovic tìm cách cải thiện những lý thuyết này bằng cách mô hình hoá cách thức hoạt động của những hệ thống sinh vật: tiếp nhận những dữ liệu cảm biến từ thế giới bên ngoài, và đáp trả theo một cách tự nhiên
nói về tay giả, Tomovic chỉ ra rằng những hệ thống hiện hữu đã phụ thuộc vào "không lỗi": giám sát trạng thái của chính mình, so với một tham chiếu nội bộ [internal reference] hay một tín hiệu mệnh lệnh [command signal] - khác biệt giữa 2 thứ này được gọi là lỗi [error]
mục tiêu là giảm thiểu lỗi: nếu trạng thái tham chiếu của tay robot được mong muốn là 30 độ, những cảm biến của tay nói là 28, những động tác tiếp theo sẽ tìm cách giảm bớt "lỗi" 2 độ
bắt chước cách hoạt động của những hệ thống sinh vật, Tomovic đề nghị một đảo ngược: hệ thống sẽ tối đa hoá "lỗi"
Tomovic đưa ra một tình huống: một bàn tay sẽ siết một vật thể nào đó, thấy rằng những bàn tay người, kể cả những đứa bé, thực hiện động tác này bằng cách tối đa một tín hiệu phản hồi [feedback] tức là diện tích bề mặt da người đang chạm vào vật thể
Tomovic thấy rằng mô hình lý thuyết này có thể xử lý những tình huống khác nhau: thay vì điều khiển bàn tay, khi nào siết... chỉ cần đưa ra một số mục tiêu và điều kiện lỏng lẻo, và để bàn tay tìm ra cách riêng, thông qua một vòng lặp phản hồi "tối đa hoá lỗi"
Tomovic thí nghiệm một khung xương bàn tay chạy-bằng-điện, cấu trúc giống người, bọc một găng tay cao su dẫn điện: áp lực lên găng tay sẽ sản sinh một tín hiệu phản hồi, hệ thống sẽ được khuyến khích để tối đa hoá (tín hiệu phản hồi)
một khi đã nắm hoàn toàn, tín hiệu dừng tăng, tay dừng siết... tự động phản hồi
vậy là, bàn tay đeo-găng có thể co ngón tay ôm lấy nhiều vật thể với những kích cỡ khác nhau, không cần được lập trình cụ thể cho kích thước và tình huống riêng biệt của mỗi một vật thể
so với những chế độ [regime] lý thuyết điều khiển trước đấy, dòng chảy định nghĩa mục tiêu cuối cùng, ở đây là siết vật, mà không định nghĩa cứng nhắc những trạng thái chuyển tiếp để đạt được mục tiêu cuối ấy, đã là một bước đột phá lớn
trong báo cáo, Tomovic ghi rằng ông và đội ngũ muốn sử dụng những nguyên tắc này để phát triển một tay giả hoàn thiện, và có thể cả một rôbôt

Nguyên mẫu
năm 1963 nhóm bắt đầu phát triển tay Belgrade
đầu năm 1964 nhóm Tomovic trình làng sản phẩm, chạy điện từ một nguồn ngoài, tay Belgrade to bằng tay người, năm ngón giống tay người, trong đó 4 ngón không-phải-ngón-cái hoạt động giống ngón tay tự nhiên, với 3 khúc [đốt ngón tay] cứng được nối bởi những khớp linh hoạt
tay Belgrade được gắn với một cẳng tay [forearm] và được di chuyển bởi một cảm biến áp lực, được kích hoạt bởi những cơ nhị đầu [bicep] của một người dùng
ngón cái của tay Belgrade hoạt động khác ngón tay người, chỉ có thể xoay giữa 2 vị trí: 1 bên ngoài bàn tay, 1 bên trong bàn tay, ngay đối diện ngón giữa
sử dụng 1 trong 2 kỹ thuật, tay Belgrade có thể túm những thứ với nhiều kích cỡ
kỹ thuật thứ nhất, ngón cái sẽ xoay từ bên ngoài bàn tay: khi bất cứ đầu ngón tay [finger pad] nào chạm một vật thể, 4 ngón không-phải-ngón-cái sẽ nắm quanh vật thể ấy, bằng một động tác siết (giống cây bắt ruồi)
nếu vật thể quá dày (ví dụ một quyển sách), quy trình nắm của ngón sẽ bị cản trở, bàn tay sẽ kết thúc ở một động tác giống như móc [hook]
nếu vật thể nhỏ, ngón tay sẽ đạt đến giới hạn trước, ngón cái sẽ xoay vào trong, từ vị trí ban đầu, đến vị trí bên ngoài những ngón đã-siết, tạo ra một nắm đấm
kỹ thuật nắm thứ 2 là với những đầu ngón [fingertip] để nhặt vật nhỏ
những động tác này được truyền lực bởi một động cơ bánh răng, phần nào nằm bên ngoài bàn tay
lực của động cơ được phân phối, sử dụng một tập hợp những lò xo và đòn bẩy
cảm biến áp lực trong những ngón tay sẽ trả lại tín hiệu phản hồi cho hệ thống xác định động tác
năm 1962 Henrich Ernst ở trường MIT tiên phong bàn tay rôbôt MH-1 gắn với một máy tính kỹ thuật số

Nâng cấp
một đánh giá lâm sàng đã xác định những nhược điểm của tay Belgrade đầu tiên: phức tạp cơ học, khó quản lý, hệ thống cấp điện ngoài đã khiến nó quá đồ sộ
giữa thập niên 1960 cơ quan phục hồi nghề nghiệp [Vocational Rehabilitation Administration] tiểu bang Washington tài trợ dự án của nhóm Tomovic
VRA tìm cách phát triển một hệ thống cánh tay chạy-điện-ngoài đa chức năng
năm 1966-1967 đội ngũ robotic học viện Pupin hợp tác VRA và viện khoa học quốc gia Hoa Kỳ: dự án đối tác đã cho phép một số người Mỹ đi đến Nam Tư, một trường hợp hiếm thấy, đến nỗi một số kênh tin địa phương đã đăng tải
bản 2 áp dụng những nguyên tắc giống bản 1, nhưng với những điều chỉnh cho hệ thống đòn bẩy [lever], khớp ngón và ngón tay cái
cải thiện logic điều khiến, cho phép người dùng thêm tính linh hoạt và khả năng dự đoán, liên quan đến cách thức co duỗi bàn tay
ngày 30-31 tháng 7 năm 1969 tay Belgrade và 8 sản phẩm ứng viên khác đã trình làng ở buổi hội thảo lần thứ 7 cho những bộ phận giả chi-trên [upper-extremity prosthetics component] tại Santa Monica
tay Belgrade thế hệ 2 quá nặng, không thể lắp cho người thử, nên đã không được lựa chọn cho sử dụng
sớm sau đó NASA có ý sử dụng tay Belgrade làm thiết bị thực thi đầu cuối [end effector] cho một số dự án vũ trụ, nhưng đã không thành

Rôbôt
thập niên 1980 tay robot thường là những bộ kẹp [grip] 2 ngón
Ken Salisbury trình làng tay ba-ngón được thương mại hoá là một sản phẩm đắt tiền
MIT hợp tác Utah trình làng tay Dextrous
sau này Ken Salisbury vào làm cho công ty Intuitive Surgical góp sức phát triển hệ thống phẫu thuật Da Vinci
quỹ khoa học quốc gia [National Science Foundation] tài trợ các trường đại học mua bàn tay MIT-Utah Dextrous 5 ngón
cuối thập niên 1980 Tomovic hợp tác bạn lâu năm George Bekey trường đại học Nam California phát triển phiên bản bàn tay Belgrade/USC

University of Southern California
hệ hình [paradigm] đương đại của vận động robot là một hệ thống từ-trên-xuống, tiếp nhận những tín hiệu đầu vào từ những cảm biến, xử lý những tín hiệu ấy, nhận diện mẫu hình [pattern], luận ra [infer] hành động đáp trả, rồi lập kế hoạch những vận động để thực thi
Tomovic và George Bekey cho rằng hệ thống này quá phức tạp, cần những mô hình toán rõ ràng những quỹ đạo và động tác
2 người đưa ra một triết lý điều khiển, dựa trên những đáp trả [response] được lưu giống-như-phản-xạ được kích hoạt bởi những mẫu hình [pattern] cảm giác đã-học-được... gọi là "điều khiển phản xạ nhân tạo" ARC [artificial reflex control]
năm 1990 bàn tay Belgrade/USC trình làng, sử dụng 4 động cơ riêng biệt cho 4 ngón không-phải-ngón-cái, ngón cái có 2 khớp để có thể xoay theo một trục song song với cổ tay, đối diện ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út
bàn tay Belgrade/USC được thiết kế để lắp cổ tay vào cánh tay robot Puma 560, thêm một máy tính IBM PC/AT thực hiện những tác vụ cao cấp hơn: xác định hình ảnh vật thể mục tiêu, xác định một chiến lược nắm, định-hình-trước và đặt vị trí [position] bàn tay
khối lượng tối đa của tay Belgrade trên cánh Puma 560 là 2.268 cân
5-6 bàn tay Belgrade/USC được làm và bán cho các phòng nghiên cứu ở các trường đại học ở Đức, Mỹ và Nam Tư
ở mảng thương mại, tay Belgrade/USC quá phức tạp để cạnh tranh được những tay gắp [grip] rôbôt đơn giản
George Bekey nhớ lại rằng đã gọi vốn phát triển phiên bản thứ 3, nhưng không thành, rồi một công ty nhỏ ở California thử thương mại hóa nhưng đã chỉ bán được 2-3 chiếc và thua lỗ nặng
năm 1990 Nam Tư tan rã, Tomovic ở ẩn và mất năm 2001 hưởng thọ 81 tuổi
thập niên 1990 George Bekey vẫn nghiên cứu khả năng điều khiển rôbôt lấy-ý-tưởng-sinh-vật trước khi mất năm 2025 hưởng thọ 96 tuổi

Cần gì 5 ngón
năm 2008 George Bekey trả lời phỏng vấn tạp chí Wired rằng bàn tay rôbot ngày nay không cần 5 ngón, tay Salisbury chứng minh rằng 3 ngón là đủ
giá trị cốt lõi Tomovic mang lại là lý thuyết lấy-ý-tưởng-sinh-vật điều khiển robot thông qua những hành vi phản xạ cục bộ [local reflex action] thay vì những hệ thống từ-trên-xuống

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

Trịnh Sùng Hoa sáng lập Delta Electronics

năm 2026 Delta Electronics báo doanh thu 14 tỷ USD và giá trị vốn hoá 80 tỷ USD, là doanh nghiệp lớn thứ 3 Đài Loan chỉ sau TSMC và Foxconn
năm 2025 cổ phiếu Delta Electronics tăng 150%
Trịnh Sùng Hoa
năm 1936 Cheng Chonghua sinh ra ở Phúc Kiến, cha là thầy thuốc Đông y, mẹ là giáo viên trong một gia đình truyền thống sĩ phu
chiến sự Trung-Nhật nổ ra, gia đình Trịnh chuyển đến sống ở Shuiji quận Giản Dương thành phố Nam Bình
năm 1948 Bruce Cheng được gửi đến sống với chú ở Phúc Châu, trước khi Shuiji rơi vào tay Trung Cộng, khiến Bruce Cheng không được gặp gia đình trong 35 năm sau đấy
chú của Bruce Cheng nhận việc thầy giáo cấp 3 ở Đài Trung và đã dẫn Bruce theo, cha mẹ Bruce không hay biết
năm 1949 một triệu người Trung Hoa Dân Quốc tản cư sang Đài Loan khiến dân số đảo này tăng 13%
xung đột nổ ra giữa 2 cộng đồng người waishengren (người Trung Quốc đến Đài Loan) và người bản địa benshengren
Bruce Cheng trúng tuyển vào trường đại học quốc gia Thành Công
tốt nghiệp, Bruce vào làm ở công ty Air Asia bán máy điều hoà nhiệt độ
sau 5 năm làm việc, Bruce thăng tiến làm giám đốc sản xuất ở công ty TRW cung cấp bộ phận điện tử Mỹ
TRW mua nhiều nhà máy Mỹ và chuyển công việc sản xuất đến Đài Loan
TRW trả tiền cho Bruce đi tàu hoả đến thành phố Watseka tiểu bang Illinois để được những công nhân Mỹ ở đây đào tạo
sau 5 năm làm việc ở TRW, Bruce bỏ công ty để khởi nghiệp, nhân cơ hội bùng nổ thị trường tivi ở Đài Loan bấy giờ

Tivi
giữa thập niên 1960 thị trường Mỹ chật hẹp đã buộc các doanh nghiệp Mỹ nhìn ra nước ngoài
bấy giờ, giá lao động nữ Đài Loan chỉ bằng 1/15 Mỹ, bằng 1/3 Nhật Bản và Mexico, bằng một nửa Hồng Kong
thập niên 1950 giá trị tiền Đài Loan bị hạ thấp
năm 1954 luật đầu tư nước ngoài Đài Loan cho phép nước ngoài sở hữu 100% doanh nghiệp trong nước, và khả năng được chuyển lãi về nước mẹ mà không có hạn chế nào đáng kể
năm 1964 General Instrument thành lập nhà máy 1 triệu USD ở quận Tân Điếm thành Đài Bắc, sản xuất bộ thu sóng [tuner] và cổ lái tia [deflection yoke] cho tivi, để xuất khẩu
Zenith và RCA ở Mỹ sớm theo chân, sau đó đến các doanh nghiệp Sanyo/Sampo và Panasonic ở Nhật Bản cũng chuyển sang xuất khẩu tivi thay vì chỉ cung cấp trong nước (Nhật Bản)
từ năm 1969 đến 1981 sản lương tivi Đài Loan tăng bình quân 41.9% mỗi năm

Đại Đồng
năm 1918 Đại Đồng khởi nghiệp là một công ty xây dựng, trước khi mở rộng sang làm sắt thép
thập niên 1950 Đại Đồng chào bán tivi, quạt điện, nồi cơm điện
truyền hình analog phụ thuộc các bộ phận điện tử "bắt" sóng, xử lý sạch tín hiệu, khuếch đại, rồi mới hiện lên màn hình... những bộ phận này phụ thuộc vào những cuộn dây
hầu hết là những dây đồng, cuộn dây phải được quấn một cách chính xác và nhất quán ở quy mô hàng loạt
Đại Đồng nhập khẩu những cuộn dây đồng này từ những đối tác Nhật Bản, ví dụ Toshiba
khi còn ở TRW, Bruce đã họp và giúp doanh nghiệp Đại Đồng xử lý sự cố kỹ thuật... công việc này đã biến thành một hợp đồng tư vấn, nhân viên Đại Đồng đề nghị Bruce sáng lập một công ty cung cấp
đạp xe ở quận Tân Trang thành Đài Bắc, Bruce tìm thấy một địa điểm lý tưởng ở cạnh ruộng lúa, để đặt nhà máy
năm 1971 Bruce sáng lập Delta Electronics là một nhà máy nhỏ, chỉ 10-15 nhân viên
2 sản phẩm đầu tiên của Delta là cuộn dây và máy biến áp tần số trung gian IFT [intermediate frequency transformer]
Delta tự làm những dây chuyền nhà máy được tự-động-hoá, bao gồm những máy quấn cuộn dây
sản phẩm Delta sánh ngang chất lượng Nhật Bản trong khi mức giá chỉ rẻ bằng 1 nửa, Đại Đồng trở thành khách hàng của Delta

Khủng hoảng dầu
năm 1973 nhiều doanh nghiệp nước ngoài, như TRW, RCA, Zenith và Philips (Hà Lan) đã đặt hàng Delta
giữa thập niên 1970 hàng triệu tivi trang bị cuộn dây Delta
thập kỷ đầu tiên, trung bình Delta tăng trưởng 69% mỗi năm
năm 2011 Bruce Cheng trả lời phỏng vấn Financial Times: "chúng tôi nỗ lực thay đổi vì nó [thay đổi] mang đến cơ hội, thử thách và thành công lớn hơn. Doanh nhân thành đạt là những ai nhanh nhẹn và linh hoạt phản ứng với những thay đổi thị trường"
năm 1978 Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc đồng ý hạn chế xuất khẩu tivi sang Mỹ
ngành tivi Đài Loan chuyển hướng sang sản xuất máy tính bỏ túi và máy chơi game [console]
một sản phẩm Đài Loan thành công là máy vi tính Apple II nhái
năm 1983 Apple kiện, buộc ngành Đài Loan chuyển sang PC nhái, Delta giảm giá bán cuộn dây và IFT bớt đi 2-5% mỗi năm
Delta nâng cấp thiết kế và những quy trình sản xuất

Máy tính cá nhân
sản phẩm Delta đầu tiên liên-quan-đến-PC là bộ lọc nhiễu EMI và RFI
vấn đề PC thế hệ đầu là những dây điện và dây tín hiệu đã phát xạ những tín hiệu nhiễu điện từ tần-số cao, gián đoạn những bộ phận điện tử tivi khác
nhiễu đã nghiêm trọng đến mức, cơ quan chức năng Châu Âu chặn nhập khẩu từ một số doanh nghiệp Mỹ
bộ lọc EMI giảm thiểu nhiễu, đồng thời cho phép những tín hiệu bình thường hoặc tín hiệu điện đi qua
đại lý Đài Loan của Digital Equipment Corporation đã gọi Delta để hỏi mua bộ lọc, lập tức Delta nắm lấy cơ hội nhảy vào một danh mục sản phẩm mới
nhà cung cấp bộ lọc EMI bấy giờ là Corcom ở Mỹ, Delta đã nghiên cứu sản phẩm Corcom, cải thiện và thiết kế một loạt nhiều mẫu sản phẩm, phục vụ 150 khách hàng khác nhau
không chỉ rẻ hơn Corcom, sản phẩm Delta cũng giảm lỗi gấp 10 lần
Delta bán bộ lọc cho Wang Computer, Xerox và IBM

Nguồn điện
kiểu nguồn điện PC đầu tiên là loại bộ nguồn tuyến tính
bộ nguồn tuyến tính sử dụng một bộ biến áp lõi-sắt để hạ thế điện xoay chiều dân dụng, rồi một đi-ốp chỉnh lưu [rectify] chuyển đổi thành dòng điện một chiều, cuối cùng là một bộ điều áp sẽ hạ thế dòng điện đến kết quả mong muốn
nguồn tuyến tính rẻ, dễ thực thi và ít nhiễu, đánh đổi là to và nặng vì bộ biến áp lõi-sắt
nguồn tuyến tính cần một cái tản nhiệt, cho bộ điều áp tuyến tính, sẽ tản nhiệt những điện quá áp... hiệu suất bộ nguồn tuyến tính là 40-60%
thập niên 1930 xuất hiện ý tưởng bộ nguồn chuyển mạch
thập niên 1960 các nhà khoa học NASA thiết kế bộ nguồn chuyển mạch, phục vụ sứ mệnh Apollo
năm 1977 Apple chào bán máy vi tính Apple II sử dụng bộ nguồn chuyển mạch sử dụng MOSFET
Steve Wozniak nhớ lại rằng một bộ nguồn tuyến tính sẽ nung chảy thùng máy tính được làm bằng nhựa, cho nên Steve Jobs giao cho kỹ sư Rod Holt ở doanh nghiệp Atari bán trò chơi điện tử, việc thực thi một bộ nguồn chuyển mạch không-quạt được sản xuất bởi Astec ở Hồng Kong
Steve Jobs viết trong hồi ký: "bộ nguồn chuyển mạch 'mang tính cách mạng' không kém bo mạch chủ Apple II. Rod đáng lẽ phải được vinh danh nhiều hơn trong tài liệu lịch sử. Hiện nay, tất cả máy vi tính đều sử dụng bộ nguồn chuyển mạch, tất cả đều sao chép thiết kế của Rod Holt"
Ken Shirriff viết blog về tuyên bố này của Steve Jobs
Steve Jobs sai, ví dụ IBM thiết kế PC sử dụng bộ nguồn khác với Apple II, nhưng dù sao thì Apple II cũng đánh dấu ưu điểm của bộ nguồn chuyển mạch khi so sánh với bộ nguồn tuyến tính
năm 1979 Delta đạt 2.9 triệu USD doanh thu, nhờ sản xuất hàng loạt cuộn dây và bộ lọc EMI, mỗi món chỉ bán giá vài xu
năm 1981 Delta thuê một nhóm kỹ sư RCA cũ, để về thiết kế
năm 1983 Delta trình làng bộ nguồn chuyển mạch mới, tận dụng chuyên môn của Delta về bộ lọc EMI, hấp dẫn các khách hàng Acer, NEC, Epson và IBM
năm 1983 doanh thu Delta tăng 87.5%
nhiều năm sau, Delta áp dụng kỹ thuật gắn bề mặt SMT [surface mount technology] của IBM để tiếp tục thu nhỏ bộ nguồn
năm 1988 Delt đạt 100 triệu USD doanh thu, là doanh nghiệp thứ 8 ở Đài Loan lên sàn chứng khoán, mặc dù Bruce và gia đình ông vẫn nắm quyền điều hành Delta và các doanh nghiệp liên kết

Thái Lan
năm 1980 Delta mở văn phòng Mỹ
năm 1987 Delta mở văn phòng Thuỵ Điển
năm 1989 Delta mở văn phòng Nhật Bản
tại Đài Loan, chi phí sản xuất đã tăng vì đồng tiền Đài tệ tăng giá, mức sống tăng, tỷ suất sinh giảm
năm 1987 Delta xây dựng nhà máy sản xuất bộ nguồn chuyển mạch ở Sonora (Mexico)
tháng 11 năm 1989 một giám đốc Delta trả lời phỏng vấn: "chi phí lao động Mexico bằng 1/3 đến một nửa Đài Loan. Công nhân Mexico không bị kém hiệu quả. Chúng tôi tiết kiệm tiền vận chuyển sản phẩm vào thị trường Mỹ"
Bruce nhớ rằng việc xây nhà máy Sonora dựa vào lời đề nghị của Apple và Hewlett-Packard để giúp cân bằng cán cân thương mại của những hãng này với khu vực Mỹ Latinh
Delta tìm được một người Mexico học tiếng Trung ở trường đại học sư phạm quốc lập Đài Loan về giúp dẫn dắt công việc mở nhà máy Sonora
năm 1988 Delta xây dựng nhà máy hoàn chỉnh ở Thái Lan
Bruce cũng đến thăm Mã Lai nhưng chọn Thái Lan sau khi nhận thấy tâm lý bài-Hoa tại Malaysia
trang 152-153 hồi ký Bruce có viết về người Thái: "khác với những doanh nghiệp Mỹ xây dựng nhà máy Đài Loan những năm trước, khi Delta thành lập văn phòng và nhà máy ở nước ngoài, chúng tôi không chỉ tận dụng lợi thế chi phí lao động và chi phí khác. Chúng tôi giữ thái độ cởi-mở với các đối tác nước ngoài. Nếu một công ty địa phương có thể tự thiết kế sản phẩm riêng, và nếu dự án ấy được đánh giá là khả thi sau khi cân nhắc, chúng tôi hoàn toàn ủng hộ, giống như chúng tôi làm ở trụ sở Đài Loan"
"chúng tôi cũng muốn những hoạt động nước ngoài của chúng tôi là bền vững, vì chúng tôi có trách nhiệm với những nhân viên nước ngoài. Ví dụ Delta Electronics Thái Lan. Thương vụ đầu tư của Delta tại đó đã giúp công nghiệp hoá khu vực, nơi đặt nhà máy của chúng tôi. Bề ngoài thì chúng tôi xứng đáng nhận công lao giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, nhưng thực ra thì chúng tôi đã làm gián đoạn lối sống tự do dựa-vào-thiên-nhiên của người dân. Thậm chí, chúng tôi làm thay đổi thói quen sống của họ. Ví dụ, người địa phương trước đó thường tận hưởng không khí ngoài trời, nhưng làm ở Delta khiến họ quen với khí phòng điều hoà. Họ ngại về nhà sau giờ làm việc, vì thấy quá nóng nếu không có điều hoà. Những người đàn ông Thái Lan quá sướng, vì vợ đã làm hết, từ việc đồng áng, chăm trẻ, cho đến việc săn sóc nhà cửa. Sống trong những túp lều được dựng trên cái ao nước, đàn ông Thái Lan thả lưới xuống đợi cá. Nếu bắt được 3 con cá, họ hài lòng với việc ăn 1 cá 1 ngày trong 3 ngày sau đó. Họ ngủ gật cả ngày, mũ chùm lên mặt, trong khi vợ họ lao động ở nhà máy"
"Delta Electronics Thái Lan đã định nghĩa lại lối sống của họ. Họ sẽ thế nào nếu chúng tôi chuyển nhà máy đi nơi khác, ngay khi cơ hội đầu tư tốt hơn xuất hiện? Công ty và tôi coi trọng lời hứa của chúng tôi là sẽ đảm bảo sinh kế của những nhân viên Thái Lan, những người đã chăm chỉ làm cho chúng tôi. Khi kinh tế Thái Lan sụt hố, chúng tôi đã nỗ lực tạo ra việc làm mới cho nhà máy, ví dụ việc sản xuất bộ phận ô tô. Chúng tôi đảm bảo sẽ không có thay đổi nghiêm trọng bởi những biến động ngắn-hạn. Sau các năm, nhà máy chúng tôi đã dung dưỡng nhiều thợ lành nghề và thạo việc, những người mà sinh kế của họ luôn được chúng tôi quan tâm."
Delta Electronics Thái Lan đã tăng trưởng lên đến hàng vạn công nhân, sản xuất nguồn điện, bộ điều hợp [adaptor], quạt tản nhiệt, thiết bị điện tử ô tô... chủ yếu xuất khẩu
năm 1995 Delta Electronics Thái Lan lên sàn chứng khoán
năm 1990 Delta mở nhà máy Scotland cho thị trường Châu Âu, phục vụ khách hàng DEC và IBM
năm 1992 Delta mở nhà máy Đông Quản
năm 2018 thương chiến Mỹ-Trung khiến Delta mở nhà máy Texas và chuyển sản xuất Trung Quốc sang Đông Nam Á
năm 2018 Delta bỏ thầu 2 tỷ USD mua 63% cổ phần công ty con Thái Lan
hiện tại Delta Electronics Thái Lan đạt giá trị vốn hoá thị trường 78.29 tỷ USD, bỏ xa AIS [Advanced Info Service] giá trị vốn hoá 28 tỷ USD là công ty lớn nhì Thái Lan

Chaebol
cuối thập niên 1980 Delta có 2 sản phẩm chủ lực là bộ lọc EMI và bộ nguồn chuyển mạch
Delta đã mở rộng thêm sản phẩm quạt không-chổi-than điện-một-chiều cho bộ nguồn máy vi tính, và thiết bị mạng
năm 1999 phân nhánh thiết bị mạng Delta được tách ra một doanh nghiệp riêng là Delta Networks
năm 2018 Delta mua lại Delta Networks
thập niên 1990 Delta bán nguồn điện cho máy tính xách tay, lắp đặt viễn thông, hệ thống điện thường trực [uninterruptible power system] (bộ lưu điện)
bộ lưu điện UPS là thiết bị cung cấp nguồn điện dự phòng, cho những hạ tầng, ví dụ như bệnh viện, trung tâm dữ liệu
có lúc Delta chào bán màn hình màu, nhưng đã rút lui
ngày nay Delta chào bán máy chiếu hiệu-năng-cao
Delta đa dạng hoá danh mục sản phẩm, một xu hướng hành vi giống-Chaebol là nhảy vào một mảng kinh doanh khi cơ hội xuất hiện
ví dụ Delta bán quạt không-chổi-than vì Panasonic từ chối bán quạt, trong khi IBM gửi đơn hàng mua nguồn điện
hoặc UPS, Delta bán sản phẩm này sau khi một doanh nghiệp ở Đài Nam không đáp ứng được, và Delta đã mua lại nhóm Đài Nam ấy

Phát triển xanh
năm 2011 Bruce nghỉ Delta, chia việc giữa chủ tịch Yancey Hai và giám đốc Ping Cheng
trong hồi ký và những bài trả lời phỏng vấn, Bruce nhớ lại Đài Loan bị thiệt hại môi trường bởi các nhà máy, cũng như năm 1979 khủng hoảng dầu
thập niên 2000 Bruce thúc đẩy Delta vào điện mặt trời và xe điện
Delta đối tác với đội ngũ tế bào quang điện ở Viện nghiên cứu ITRI [industrial technology research institute] sáng lập DelSolar
năm 2012 DelSolar sáp nhập Neo Solar Power Corporation cùng ở Đài Loan
năm 2008 Delta bắt đầu bán xe điện, năm 2023 mới có lãi
Delta sản xuất một loạt những hệ thống phụ [subsystem] cho xe điện và xe lai: cửa nạp liệu, hệ thống truyền động (kết hợp một động cơ kéo và một hộp số, với một bộ biến tần)

Trí thông minh nhân tạo
tháng 4 năm 2023 tờ báo Nikkei Asia dẫn lời Yancey Hai về cuộc bùng nổ AI tạo sinh: "mọi người ưa thích AI tạo sinh. Nhưng câu hỏi cơ bản là, chúng ta kiếm tiền thế nào từ nó?"
"một trung tâm dữ liệu đã rất đắt. Một trung tâm dữ liệu AI tạo sinh, nhúng vào hàng vạn máy chủ, sẽ đắt gấp 10 lần"
"trừ khi những doanh nghiệp AI tìm được một mô hình kinh doanh bền vững, tôi ngờ rằng không nhiều người sẽ đầu tư [xây dựng các trung tâm dữ liệu AI tạo sinh] ở thời điểm này"
năm 2026 thay thế xe điện, các trung tâm dữ liệu AI là động lực tăng trưởng chính của Delta
năm 2023 doanh thu Delta bởi các trung tâm dữ liệu AI đã tăng trưởng 2%, năm 2025 con số ước tính 11%, năm 2026 ước tính 20%
cho các trung tâm dữ liệu AI, Delta chào bán loạt sản phẩm trải dài từ những thiết bị điện áp nối đến rack máy chủ, cho đến những giải pháp tản nhiệt, cả không khí lẫn chất lỏng, cho đến các thiết bị mạng [networking]
Delta chào bán những trung tâm dữ liệu AI được container-hoá được sản xuất trước, có thể được vận chuyển đến nơi xây dựng trung tâm dữ liệu
năm 2025 hội chợ Computex đã triển lãm sản phẩm này của Delta, cạnh tranh những đối thủ như Schneider Electric

Học thuật
Bruce thường làm việc với các kỹ sư và nhà khoa học ở Đài Loan và nước ngoài, để khám phá và nhanh-triển-khai [fast-track] những nỗ lực mới