John Steward nổi tiếng đã nói "pizza kiểu Chicago là món thịt hầm"
Công thức thập niên 1940
năm 1943 Pizzeria Uno địa chỉ số 29 đường Đông Ohio mở cửa
năm 1945 báo chí thế giới đã xuất bản công thức của chủ cửa hiệu Rick Ricardo, bấy giờ pizza là món mới đến nỗi tác giả Gaynor Maddox đã phải giải thích cho độc giả nó là gì
bài báo năm 1945 được sử gia ẩm thực Chicago là Peter Regas, người đam mê pizza, nhắc đến gần đây; công thức năm 1945 mô tả cách làm vỏ bánh và nước sốt
năm 1947 Rick Ricardo xuất bản một bài báo khác đã miêu tả cách thức lắp ráp một pizza kiểu Chicago
Bột nhào
pizza 12 inch, khác với bột nhào của pizza đĩa sâu lòng ngày nay, cần 235 ml sữa tươi nguyên kem
một muỗng cà phê muối
hai muỗng cà phê đường
hai muỗng cà phê bơ tan chảy
hai muỗng cà phê rưỡi men khô
300 gam bột mỳ
hai muỗng cà phê nước ấm
đầu tiên, đun sữa đến nhiệt độ 82 độ C; bắc sữa ra khỏi bếp, rồi khuấy với đường và muối, đợi sữa nguội đến lúc ấm; trong khi đợi, hoà tan men khô với nước
sữa ấm, đổ vào men và sau đó thêm bơ tan chảy và nửa chỗ bột mỳ
nhào bột, vừa nhào vừa cho thêm bột mỳ, từng chút một đến khi có được một cục bột nhào mịn mượt, nhưng không quá dính
để cục bột đã nhào vào một cái bát đã bôi nhẹ một lớp dầu mỡ, đậy lại, để bột lên men trong một giờ; xong lấy ra, nhào một chút nữa, rồi lại bọc lại, để vào tủ lạnh trong một giờ
ngày nay, cục bột nhào của pizza đĩa sâu lòng sẽ có nhiều bơ hơn, đôi khi có cả dầu oliu, giống như bột nhào đường [short-crust] hơn là công thức năm 1947 ở trên
Sốt
năm 1945 công thức là pizza đế mỏng, chỉ một ít nước sốt, giống ở Ý bấy giờ
năm 1947 công thức đã thay đổi, cục bột nhào đã không còn mỏng nữa, và nói rằng đầu bếp nên thoải mái cho sốt cà chua vào, giống pizza đĩa sâu lòng
lấy 4 chén cà chua đã nghiền nhuyễn, lọc qua cái sàng hình nón (ảnh trên) rồi thêm vào một té tỏi đã dập mịn
1/4 muỗng cà phê cỏ xạ hương
1/4 muỗng cà phê hương thảo
1/4 muỗng cà phê húng tây
1 lá nguyệt quế đã phơi khô
1 muỗng cà phê muối và 1 củ hành tây
trộn tất cả với 4 chén nước, ninh nhỏ lửa trong 2-3 giờ, để nước bay hơi
đợi nước ninh, lấy bột nhào ra khỏi tủ lạnh, dàn đều thành đế pizza; rồi để vào chảo bánh (ảnh dưới) đã được quét dầu ôliu
gấp các cạnh của đế pizza, giống như làm với bánh nướng có vỏ phủ (ảnh dưới)
thập niên 1940 đầu 1950 hình ảnh cho thấy những bánh nướng đã dày chỉ 1 inch
xong, phủ cục bột nhào lại và để lên men; đến khi nước sốt đã xong, ta lắp ráp pizza
Lắp ráp (trình bày)
năm 1945 bánh được trình bày như một pizza truyền thống, quét nước sốt trước, rồi phủ lên phô mai, rồi thức ăn đi kèm [topping] được đặt lên cuối cùng
năm 1947 thứ tự đã thay đổi, phô mai được đặt xuống đầu tiên dưới đáy, sau đó đến nước sốt phủ lên, giống như pizza đĩa sâu lòng ngày nay
bấy giờ, pizza theo khẩu vị nhà rùa [anchovy], pizza phô mai và pizza xúc xích đã được chào bán; tức là pizza chưa có phô mai và thức ăn đi kèm [topping], chỉ có nước sốt; khi gọi món, một trong ba lựa chọn sẽ được thêm vào
dưới đây, ta chọn làm pizza phô mai
năm 1947 công thức ghi rằng: sau khi bột đã đặt xuống, lấp đầy đĩa với phô mai mozzarella, phủ lên phô mai là nước sốt cà chua, thật nhiều sốt cà chua; bên trên sốt cà chua, rắc thêm phô mai parmesan vụn, một ít lá kinh giới cay (ảnh dưới) và một ít hạt tiêu mới xay; cuối cùng, rưới một ít dầu oliu
nướng trong lò ở nhiệt độ 260 độ C trong 20 phút hoặc sớm hơn
Lịch sử pizza đĩa sâu lòng, theo Peter Regas
năm 1943 Ike Sewell và Rick Ricardo sáng lập cửa hàng Pizzeria Uno; Ike là người Texas muốn mở cửa hàng ẩm thực Mexico nhưng Rick chưa bao giờ thử đồ Mexico, Ike làm cho Rick ăn thử và Rick bị ngộ độc thức ăn, Rick quyết định không thích đồ Mexico lắm; cho nên Rick bay đi Ý trong 3 tháng và trở về với công thức pizza và quyết định mở cửa hàng pizza
những người Texas cho rằng pizza Ý quá mỏng, quá màu mè [namby pamby]; tất cả mọi thứ ở Texas đều lớn hơn, nên pizza kiểu Texas cũng thế; nên Rick muốn pizza dày hơn, ra đời pizza đĩa sâu lòng
câu chuyện trên được Ike kể lại sau khi Rick mất, vì nó chỉ là chuyện bịa
Peter Regas chỉ ra rằng năm 1943 Rick đi Ý chơi và học pizza, lúc ấy là khi quân Đồng Minh đang xâm lược Ý ở cao trào của thế chiến 2
những đơn xin thuê và xin giấy phép bán đồ uống có cồn đã cho thấy rằng Ike không tham dự việc kinh doanh trong năm đầu tiên nhà hàng mở cửa
nhiều năm sau, vợ của Rick nói rằng: "Ike Sewell cóc biết gì về pizza đĩa sâu lòng. Tôi nghĩ Sewell là kẻ lừa đảo"
Rick và vợ đã sống trong toà nhà, nơi trở thành Pizzeria Uno; bấy giờ, tầng trệt là cửa hàng Pelican Tap có bán pizza
sau khi một vụ giết người xảy ra ở Pelican Tap, cửa hàng đóng cửa; Rick mua lại và cải tạo thành nhà hàng chuyên pizza
ngày 18 tháng 8 năm 1946 tờ báo Chicago Sun đăng bài, có đoạn viết: "Riccardo sống ở tầng trên đã mua lại nó để làm một pizzeria (nhà hàng) để ngăn không cho quán rượu ầm ĩ nào với máy hát tự động sẽ mua lại"
năm 1943 mở cửa, nhà hàng có tên là Pizzeria, sau đó đổi tên làm Riccardo's Pizzeria; sau nhiều lần đổi tên nữa, nó cuối cùng lấy tên Pizzeria Uno, hiện vẫn mở cửa ở Ohio và Wabash, Chicago
đông khách, không lâu sau đã mở thêm Pizzeria Due ở cuối phố; nhiều hiệu pizza đĩa sâu lòng ở Chicago, ví dụ Lou Malnati's và Gino's East đã nhận nguồn gốc từ Pizzeria Uno, nhưng có thể chỉ là nhận vơ
ví dụ Lou Malnati's nhận rằng Rudy là cha của Lou đã từng làm quản lý ở Pizzeria Uno và là người phát minh thực sự của pizza đĩa sâu lòng; bịa, vì người quản lý đầu tiên là anh em họ của Rick Riccardo, và sau khi người này nghỉ thì Gino Volpi đã làm quản lý trong nhiều năm sau; thập niên 1950 Rudy mới xuất hiện là quản lý
năm 1971 Lou, vốn là người pha chế ở Pizzeria Uno, đã khởi nghiệp Lou Malnati's và hiện đã mở thêm nhiều địa điểm
Sam Levine, Fred Bartoli và George Loverde mở nhà hàng Gino's và Gino's East; mặc dù 2 trong số 3 người là đến từ Ý, sau này họ thừa nhận: "chúng tôi đã không biết làm pizza"; họ đã nảy ra ý tưởng thuyết phục đầu bếp của nhà hàng pizza nổi tiếng nhất thành phố bấy giờ, là Pizzeria Due, bếp trưởng là bà Alice Mae Redmond
thập niên 1940 Alice Mae Redmond đến Chicago từ Mississippi, đã hoàn toàn thay đổi kiểu vỏ bánh, giống ta làm ngày nay, tức là giống hơn với một cục bột bánh mỳ; Alice nói rằng bà gặp khó khi kéo dãn cục bột lên chảo nướng, vì cục bột bánh mỳ đã có sức kéo lại; nên Alice thêm vào gấp đôi, gấp ba lượng bơ; Alice nói rằng đã áp dụng một công thức bánh quy của gia đình, khiến cục bột giống bột nhào bánh quy hơn, dễ dàn mỏng ra hơn
tin đồn rằng Alice đã bị lôi kéo khỏi Pizzeria Due, nhưng con gái của Alice nói rằng Alice đã cùng lúc làm việc ở hai nơi; ban ngày làm ở Pizzeria Due, ban đêm làm ở Gino's; đến khi Pizzeria Due phát hiện ra và buộc Alice chỉ được chọn làm ở một trong hai nơi, Alice chọn Gino's; làm ở Gino's một thời gian, Alice chuyển sang làm ở Gino's East
thập niên 1960 và 1970 Alice thay đổi công thức vỏ bánh (thêm bơ, giống bánh quy) và lúc này pizza cũng trở nên dày hơn, từ 1 inch đến 1 inch rưỡi đến 2 inch, và xuất hiện pizza nhân nhồi
nhà hàng Giordano's nổi tiếng với pizza nhân nhồi
nhà hàng Pequod's mặc dù không có liên hệ đến Pizzeria Uno nhưng cũng làm pizza nhân nhồi, bắt đầu thêm phô mai ở bên ngoài và làm một vỏ bánh có phô mai bị caramel hoá (ảnh trên)
Thứ Tư, 24 tháng 1, 2024
siêu máy tính Cray
làm việc ở Control Data Corporation, nhà thiết kế Seymour Cray từng được hỏi về những mục tiêu 5-năm và 1-năm của ông, ông trả lời: "mục tiêu 5-năm là phát triển chiếc máy tính lớn nhất thế giới. Mục tiêu 1-năm là một phần năm của mục tiêu 5-năm"
Seymour Cray con
năm 1925 Seymour sinh ra ở thành phố Chippewa Falls tiểu bang Wisconsin, là con của một kỹ sư xây dựng dân dụng ở một công ty điện địa phương
sau khi phục vụ trong quân ngũ là một thợ điện, Cray theo học trường đại học Minnesota được học bổng của đạo luật G.I. Bill và tốt nghiệp bằng cử nhân kỹ sư điện và bằng thạc sĩ chuyên ngành toán ứng dụng
năm 1950 Seymour làm cho công ty Engineering Research Associates [ERA] ở St Paul tiểu bang Minnesota
ERA
thế chiến 2, hải quân Mỹ tuyển mộ một nhóm người phá mật mã, đội ngũ có tên là Communications Supplementary Activity - Washington [CSAW] bí mật phát triển một cỗ máy phá mật mã hàng hải phát xít, chủ yếu để truy tìm tàu ngầm Đức
thế chiến kết thúc, chính phủ Mỹ cần phá mật mã Liên Xô nhưng bị cắt giảm ngân sách nên đã không đủ tiền giữ những nhân viên cũ; hải quân đã tìm đến nhân viên ngân hàng đầu tư John Parker để khởi nghiệp một công ty vì-lợi-nhuận thuê tuyển nhóm cũ ở mức lương cao hơn, là ERA
nhân viên ERA chủ yếu làm việc bí mật ở một nhà máy tàu lượn cũ, sản phẩm đầu tiên là những máy phá mật mã; nhóm đã sớm chuyển hướng sang máy tính đa dụng, tận dụng công nghệ mới như bộ nhớ trống từ
máy tính ERA 1101 là phiên bản thương mại của một thiết bị đã bán cho một trong những tổ chức tiền thân của NSA
thập niên 1950 có thể coi Minnesota là thung lũng Silicon, nhờ hiện diện của quân đội, nơi đây là trung tâm máy tính hàng đầu Mỹ
Cray
Cray được đề nghị sản xuất hệ thống điều khiển cho máy tính tiếp theo của ERA, chiếc ERA 1103; hệ thống điều khiển sẽ phân tích những chỉ thị của phần mềm thành những bước thực thi
thiết kế hệ thống điều khiển sẽ cần kiến thức đầu-đến-cuối [front-to-back] của cấu thành máy tính, vì phải điều phối tất cả nguồn lực để thực thi chương trình
'being scrayed' là khi ai đó làm không đúng hoặc quá mất thời gian, Cray sẽ giao việc lại và tự làm lấy
Rand
tháng 12 năm 1951 chủ tịch John Parker bán ERA cho công ty máy tính Remington Rand nhưng không nói với nhân viên, làm tức giận những nhân viên chủ chốt như phó chủ tịch vận hành William Norris
Remington Rand là công ty máy đánh chữ và dao cạo râu, càng kỳ lạ vì trước đó Remington Rand đã mua lại công ty máy tính Eckert-Mauchly
J.Presper Eckert và John Mauchly nổi tiếng làm ra ENIAC là máy tính kỹ thuật số lập-trình-được đầu tiên, và EDVAC tiên phong thiết kế máy tính chương trình được-lưu-trữ, nay là nền móng của kiến trúc Von Neumann
Eckert cũng giảng dạy khoá học đầu tiên về máy tính kỹ thuật số điện tử, những bài giảng Moore School giúp phổ cập kiến trúc Von Neumann (không liên quan đến luật Moore)
và UNIVAC 1 nổi tiếng là đã tiên đoán Dwight Eisenhower thắng cử tổng thống Mỹ năm 1952
ERA chấp nhận thương vụ mua lại, Eckert-Mauchly sẽ tập trung vào thị trường máy tính doanh nghiệp, trong khi ERA tập trung vào điện toán khoa học
Căng thẳng
bấy giờ, máy tính cần được thiết kế cụ thể để xử lý vấn đề doanh nghiệp hoặc vấn đề khoa học; máy tính doanh nghiệp sẽ chỉ làm những tác vụ đơn giản: cộng, trừ và nhân - chỉ chính xác đến 2 chữ số sau dấu phẩy - nhưng cần được thực hiện hàng loạt, hàng nghìn hàng sẽ nhập vào và xuất khỏi máy tính
máy tính khoa học sẽ cần những phép tính phức tạp, chính xác lên đến 20-30 chữ số sau dấu phẩy; máy tính có thể mất hàng giờ, chỉ cho ra một dòng xuất-liệu duy nhất
nhân viên của Eckert-Mauchly ở Philadelphia coi khinh những người ở Minnesota chỉ là 'nông dân' trong khi nhân viên Minnesota coi những người Philadelphia là những lý thuyết gia, chỉ quan tâm đến việc làm sao để máy tính nhanh hơn, bất chấp có khiến máy thường xuyên hư hỏng hay không
năm 1955 Rand sáp nhập với Sperry Corporation để trở thành Sperry Rand, thương vụ đã hợp nhất hai đơn vị độc lập vào một phân nhánh UNIVAC
căng thẳng gia tăng giữa ERA, Eckert và những giám đốc doanh nghiệp mới; tổng giám đốc của phân nhánh, William Norris nói với những người Philadelphia rằng: "các anh quản lý một phòng thí nghiệm, còn ERA quản lý một doanh nghiệp"
khi Sperry tiếp quản, ban giám đốc, trong đó có chủ tịch Harry Vickers cho rằng công ty đang mua lại một tổ chức dẫn đầu thị trường; UNIVAC có tiềm năng trở thành như IBM sau này, nhưng cần vốn, không chỉ cho nghiên cứu phát triển, mà còn vì: bấy giờ, máy tính là ngành kinh doanh cho thuê thiết bị
năm 1957 Norris rời Sperry Rand để sáng lập công ty Control Data Corporation [CDC] là quyết định mạo hiểm, nhưng Norris sẵn sàng: nếu không thành công, ông và gia đình sẽ quay lại làm nông ở Nebraska
Norris mời một số đồng nghiệp ERA gia nhập, Cray nằm trong số người đồng ý; Cray nhận thấy rõ ràng là một điều gì đó xấu, không may mắn sắp xảy ra, sau khi Cray đọc được một hệ thống kế toán đã liệt kê dự án của mình là "999 linh tinh và khác" [999 miscellaneous and other]
CDC
tháng 7 năm 1957 CDC khởi nghiệp với một ít nhân viên, ít kiến thức mơ hồ về cách làm máy tính, và ít tiền vay mượn của bạn bè; không nhà máy, không sản phẩm, CDC phát hành công khai lần đầu [IPO] đứng giữa đường và bán cổ phiếu cho người dân thường, với giá 1 đôla 1 cổ phiếu
nhà bình luận thể thao Sid Hartman của tờ báo Minneapolis Tribune là cựu tổng giám đốc bán-thời-gian của Minneapolis Lakers đã nhắc đến động thái IPO của CDC ở phần cuối của một trong những mục báo thể thao
nhiều nhà đầu tư lớn ở địa phương đã từ chối bỏ tiền vào CDC, một người nói rằng công ty không có một bóng ma hi vọng nào đấu lại IBM
Warren Buffett là cháu trai của William Norris theo hôn nhân, nhưng Buffett từ chối đầu tư vì Buffett không hiểu; 300 nhà đầu tư đã mua cổ phiếu CDC với giá 1 đôla trong thương vụ IPO ấy
CDC 1604
Cray là nhân viên kỹ thuật nhất ở CDC mới, và đã thuyết phục các đồng sáng lập để phát triển máy tính khoa học, thay vì nhắm vào thị trường thương mại; lý do là những khách hàng của công ty - trường đại học và phòng thí nghiệm nghiên cứu vũ khí hạt nhân - không quan tâm nhiều đến quảng cáo và dịch vụ chăm sóc khách hàng; những khách hàng ấy cũng tự lập trình phần mềm riêng
khách hàng muốn sức mạnh điện toán; vì những nghĩa vụ của những hiệp ước, không thể cứ bắn-thử vũ khí hạt nhân mà không tính đến vấn đề môi trường, không dễ đo lường; để nghiên cứu một vụ kích nổ, cần những máy tính để mô phỏng những phản ứng dây chuyền của bom, giải thích cẩn thận tất cả những phương trình từng micro-giây sau khi kích nổ
Cray tin rằng có thể phát triển một máy tính như thế ở mức giá phải chăng, sử dụng bóng bán dẫn; Cray tìm đến cửa hàng điện tử địa phương và thấy họ đang bán những bóng bán dẫn lưỡng cực bị-từ-chối [reject] để trang bị cho radio, với giá rẻ hơn mua từ nhà máy; những bóng bán dẫn bị-từ-chối sẽ cho ra tín hiệu yếu, cho nên Cray cặp với một bóng bán dẫn thứ hai, khuếch đại đầu ra của bóng bán dẫn thứ nhất
thử nghiệm đã cho Cray thấy rằng, nếu thiết kế đúng, ta có thể sử dụng những linh kiện kém-chuẩn [substandard] và vẫn đạt được mục đích
năm 1958 tiền gần cạn, Bill Norris ký hợp đồng với hải quân Mỹ để bán ra CDC 1604 nhưng phải sản xuất hàng loạt - mua một nhà máy và tuyển dụng thêm kỹ sư - Norris và ban giám đốc đã tự giảm một nửa lương, các kỹ sư đã phải lấy cả những bóng bán dẫn là sản phẩm dùng thử của công ty, để trang bị cho máy tính
năm 1960 CDC 1604 mở bán với giá 990 000 đôla, tương đương 10.4 triệu đôla ngày nay; tốc độ xung nhịp 0.4 megahertz, bấy giờ CDC 1604 được coi là máy tính thương mại mạnh mẽ nhất
Siêu máy tính
Control Data không phải doanh nghiệp duy nhất sản xuất máy tính siêu-nhanh cho khách hàng ở thị trường ngách
năm 1960 UNIVAC trình làng Livermore Automatic Reaction Calculator [LARC] giúp kỹ sư hoá chất Edward Teller thực hiện mô phỏng bom khinh khí
LARC làm IBM sợ đến nỗi đã phát triển IBM 7030 STRETCH được thiết kế bởi Gene Amdahl và giữ ngôi vị siêu máy tính mạnh nhất đến năm 1964
LARC và STRETCH chỉ là sản phẩm đặt-làm-riêng, UNIVAC chỉ sản xuất 2 chiếc LARC; trong khi Control Data bán những chiếc 1604 cho trường đại học Illinois, Lockheed và chính phủ Israel... biến chiếc siêu máy tính trở thành một danh mục sản phẩm thương mại
CDC có lãi, thách thức những tập đoàn Rand và IBM; giá cổ phiếu CDC tăng thành 9 đôla đã khiến Norris vất vả ngăn các kỹ sư bán cổ phiếu quá sớm
Niềm hi vọng mới
hướng đến thị trường xử lý dữ liệu doanh nghiệp, Cray và CDC cân nhắc làm thêm một phiên bản của kiến trúc 1604, chế tạo máy tính điều khiển ứng dụng CDC 160A nhỏ hơn
nhưng Cray chỉ muốn phát triển chiếc máy tính nhanh nhất có thể, cộng đồng khoa học thì mới bắt đầu nhận thức một hình thức mô hình hoá máy tính mới - phân tích phần tử hữu hạn - để tiên đoán thời tiết hoặc vụ nổ hạt nhân; phương pháp phần tử hữu hạn đã ngụ ý một nhu cầu vô hạn cho điện toán, Cray muốn tiên phong đáp ứng nhu cầu tốc độ điện toán ấy
Cray doạ sẽ bỏ CDC, khiến Norris đồng ý chia ra 2 nhóm: một sẽ làm phiên bản kế nhiệm 1604, trong khi nhóm của Cray được phép mở phòng thí nghiệm riêng ở thành phố Chippewa Falls, cách nhà Cray không xa
nhóm Cray làm máy tính 6600 nhanh gấp 15 lần so với 1604
CDC 1604
máy 1604 được phát triển với những lõi từ sắt [ferrite magnetic core] làm bộ nhớ chính, và băng từ [magnetic tape] làm lưu trữ thứ cấp; logic sử dụng bóng bán dẫn germani, mọi thứ được xây dựng bên trong những khối cắm-được làm-mát-bằng-không-khí
đổi ý, Cray mua bóng bán dẫn silic phẳng của Fairchild, tự khắc tăng gấp 5 lần tốc độ; Cray cũng không ưa cách tiếp cận khối-xây [building-block] vì nối dây mặt sau [extensive back panel wiring] không chỉ gây ra vấn đề tiếng ồn, mà còn hạn chế đầu-vào/đầu-ra và tăng thời gian truyền tải dữ liệu
cho nên Cray chuyển sang sử dụng những mô đun (cordwood) dày đặc hơn, phức tạp hơn đặt-làm-riêng; dây ngắn hơn đã khiến khó sửa chữa, và cần thay thế làm-mát-bằng-không-khí sang làm-mát-bằng-khí-freon
Tính toán song song
bất cứ hệ thống nào cũng thực hiện những chức năng giữ-nhà bên cạnh tác vụ tính toán chính, chiếc 6600 có 11 máy tính riêng lẻ, có thể thực thi chương trình tách-biệt-khỏi-nhau, chỉ dùng chung một bộ nhớ trung tâm; 10 máy tính sẽ xử lý công việc thứ cấp, ví dụ thiết bị ngoại vi, để máy tính thứ 11 chỉ thực thi những phép toán tốc độ cao
6600 có một CPU sử dụng một kiến trúc tệp lệnh [ISA] định nghĩa những tác vụ cơ bản, do đó cũng định nghĩa cách thức mà phần mềm có thể điều khiển nó
6600 đơn giản hoá ISA, bỏ qua những thứ không liên quan đến tính toán khoa học, ví dụ những chỉ thị xử lý số lượng lớn dữ liệu; tệp lệnh đã cho phép máy tính "vận chuyển" [pipeline] các tác vụ, tách rời một công việc lớn thành những công việc nhỏ hơn - có thể giao việc cho các máy tính ngoại vi để cùng làm
năm 1964 CDC giao hàng chiếc 6600 đầu tiên cho Lawrence Livermore đã làm IBM ngạc nhiên với tốc độ gấp 3 lần 7030
chủ tịch Thomas J.Watson con đã viết một memo gắt gỏng, hỏi rằng: "làm thế nào mà 34 nhân viên - trong đó có cả lao công - đánh bại tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới?" - câu trả lời là, đương nhiên, kiến trúc IBM không thể đánh đổi khả năng tương thích để lấy tốc độ
Bất mãn
Norris và các giám đốc khác đã tiếp tục gây dựng việc kinh doanh, CDC sản xuất những thiết bị ngoại vi và phần mềm để bán kèm máy tính, gây dựng một mảng kinh doanh dịch vụ
CDC mua lại công ty tài chính tiêu dùng Commercial Credit với ý định sử dụng vốn hoạt động 3.4 tỷ đôla của mình để tài trợ chiến lược cho thuê máy tính; chiến lược phản phé sau khi Commercial Credit gặp khó
hơn một trăm máy CDC 6600 được bán ra cho 50 khách hàng lớn khắp thế giới, ví dụ uỷ ban năng lượng nguyên tử; mỗi máy có giá 8 triệu đôla, tương đương 23 triệu đôla ngày nay
ban giám đốc của CDC tin rằng thiết bị ngoại vi và dịch vụ là tương lai của công ty, không phải phần cứng
CDC mở bán chiếc 7600 nhanh gấp 5 lần chiếc 6600 và được ca ngợi là máy tính nhanh nhất; mặc dù chỉ đắt gấp đôi 6600, chiếc 7600 ế vì máy thường hư hỏng và điều kiện kinh tế vĩ mô yếu
CDC mở bán chiếc 8600 được làm với những bóng bán dẫn rời rạc, nhưng Cray muốn tốc độ xung nhịp 8 nano-giây; tức là tất cả dây dẫn sẽ ngắn hơn 2.5 mét, dày đặc đến nỗi Cray không biết cách nào để làm mát; sau nhiều tháng, Cray vứt bỏ hết và làm lại từ scratch theo "phong cách của Cray" [Cray way]
năm 1971 CDC đang giữa vụ kiện chống độc quyền với IBM, dòng tiền đang thấp, Cray bị yêu cầu giảm 10% chi phí; không muốn giảm chi phí, Cray tự giảm lương của bản thân xuống mức lương tối thiểu là 1.25 đôla mỗi giờ
sau rốt, Norris bảo Cray rằng không thể làm lại như những lần trước; công ty đã bán-trước [pre-sell] hai hệ thống 8600
năm 1976 Cray rời CDC và khởi nghiệp công ty Cray Research
Cray-1
sáng lập Cray Research với số vốn 2.5 triệu đôla, trong đó 20% là tiền túi của Cray, còn lại là vay ngân hàng, mục tiêu của công ty là phát triển chiếc máy tính lớn nhất, như một kiệt tác
Norris và CDC tổ chức bữa trưa tạm biệt và đã đầu tư 250 000 đôla vào công ty mới, Norris gọi ấy là 'tiền tâm huyết' [heart money]
Cray 1 đã được Cray trình làng ý tưởng mới: xử lý vector [vector processing]; bấy giờ, hầu hết máy tính sử dụng 'xử lý vô hướng' tức là xử lý lần lượt từng vật phẩm dữ liệu, ví dụ số nguyên, hoặc số thức dấu phẩy động
ví dụ tác vụ cộng 1 với 1, CPU vô hướng sẽ tải số 1 đầu tiên từ bộ nhớ vào register, tải số 1 thứ hai, cộng, và sau đó lưu trữ kết quả vào bộ nhớ; đếm thấy, tác vụ này sử dụng 4 chỉ thị; vậy là nếu cộng 2 tập hợp 20 số, sẽ là 80 chỉ thị cho CPU vô hướng phải xử lý
CPU vector sẽ làm tắt bằng cách xử lý những mảng dữ liệu một-chiều; ví dụ 2 vector, mỗi vector chứa 20 số, tải 2 vector vào register, cộng và lưu trữ vector kết quả vào bộ nhớ; sẽ chỉ sử dụng 4 chỉ thị
CDC có một nhóm nhỏ đang làm việc cho dự án máy tính vector STAR-100 đã không đạt được kỳ vọng, CDC giao hàng muộn mất 4 năm và chỉ bán được 3 chiếc
Cray nghiên cứu STAR-100 và thấy khuyết điểm: một, xử lý vô hướng của STAR-100 bị chậm đã nghẽn-cổ-chai hiệu năng của toàn hệ thống
hai, thực thi xử lý vector của STAR-100 có một cú hích: trước khi chạy phép cộng hai vector, phải tải cả hai vector vào register; gửi kết quả về bộ nhớ cũng thế, quá mất thời gian
xử lý vector [process] có nhanh thế nào, so với xử lý vô hướng, cũng vô ích nếu xử lý các vector [handle] quá lâu, cho nên Cray trình làng vector register hoạt động như bộ nhớ cache
Seymour quyết định lần đầu tiên trang bị mạch tích hợp, nhờ thế đã tăng mật độ và giảm dây dẫn, cho phép Cray-1 nhỏ hơn những thiết bị tiền nhiệm; bấy giờ IC đã 14 năm tuổi, Cray lựa chọn những công nghệ cũ - "lạc hậu cả chục năm" Cray nói - vì đáng tin cậy hơn
nhưng Cray không thoả hiệp bộ nhớ, tự phá vỡ nguyên tắc của bản thân và mua chip bộ nhớ bán dẫn lưỡng cực, thay thế bộ nhớ lõi; rẻ hơn, mật độ cao hơn và tiết kiệm điện hơn
tốc độ xung nhịp 12.5 nano-giây đã nhanh gấp 5 lần CDC 7600 cho nên tất cả dây dẫn trong máy đã phải ngắn hơn 122 cm; Cray-1 có hình trụ, bên trong chứa hệ thống làm mát mới, vẻ ngoài tinh tế, khác với thiết kế hộp xám phổ biến bấy giờ; Cray-1 có cả đệm
năm 1976 Cray-1 trình làng và được bán 100 chiếc cho các chính phủ và phòng thí nghiệm của các trường đại học; ví dụ trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia, và bộ quốc phòng
từ năm 1978 đến 1979 Cray Research tăng trưởng 150% doanh thu, và tăng thêm 50% năm sau đó; mỗi tháng có 1 đơn đặt hàng, cỗ máy Cray-1 có giá bán 8 triệu đôla
CDC đã thử sản xuất máy tính vector riêng, ví dụ Cyber-205, nhưng không cạnh tranh lại, đã thua lỗ tài chính và sau rốt đã phải tách công ty ra bán dần
giữa thập niên 1980 mảng kinh doanh lãi nhất của CDC là Ticketron đối thủ của Ticketmaster
Thành công
khi Cray-1 ở giai đoạn cuối của việc phát triển, Seymour đã bắt đầu phát triển chiếc Cray-2 hứa hẹn tốc độ xung nhịp gấp 3 đến 6 lần nhanh hơn tiền nhiệm; yêu cầu dây dẫn không được dài hơn 40 cm và do đó lại dấy lên vấn đề toả nhiệt như chiếc 8600 đã gặp phải
để tài trợ việc phát triển ban đầu, Cray Research phát hành công khai lần đầu, khiến Seymour Cray mang trách nhiệm với cổ đông
vì từng chiếc Cray-1 được nối-dây-thủ-công và đặt-làm-riêng như siêu xe, công ty buộc phải thuê thêm nhân viên để kịp sản xuất và giao hàng cho đơn của khách
từ năm 1978 đến 1980 Cray Research tăng từ 300 đến 500 nhân viên, đỉnh điểm tuyển dụng 5000 người ở Chippewa Falls
Lại tiến thoái lưỡng nan
khách hàng đã không còn tiền viết lại phần mềm cho mỗi lần mua máy mới nữa, khách hàng muốn tính di động [portability] cho nên khách hàng muốn cải tiến Cray-1 thay vì mua chiếc Cray-2 hoàn toàn khác
sau rốt, ban giám đốc Cray Research trong đó có giám đốc điều hành John Rollwagen lại chơi nước đôi, chào bán chiếc Cray-1s nâng cấp của chiếc Cray-1
năm 1981 Seymour Cray từ chức chủ tịch, nhường lại cho John Rollwagen và trở thành nhân viên hợp đồng, để phát triển Cray-2 ở Boulder tiểu bang Colorado
Cray X-MP
năm 1985 sau ba lần thất bại ở hệ thống làm mát, chiếc Cray-2 trình làng, nổi tiếng với hệ thống làm mát nhúng chất lỏng, máy trông giống như bể cá; tuy nhiên, độ trễ bộ nhớ đã khiến hệ thống kém-hiệu-năng so với tiềm năng
năm 1983 cộng tác viên Les Davis lâu năm của Cray và nhà thiết kế trẻ Steve Chen gốc Đài Loan đã dẫn dắt nhóm Cray X-MP trình làng xử lý song song, với 4 CPU và những linh kiện bán dẫn lưu trữ thể rắn; Cray X-MP nhanh gấp 2-5 lần so với Cray-1s
năm 1989 chỉ bán ra 24 chiếc Cray-2 so với 200 chiếc Cray X-MP và bản kế nhiệm Cray Y-MP được bán ra
Áp lực mới
thập niên 1970 Cray không có đối thủ cạnh tranh ở ngách thị trường của mình
thập niên 1980 Fujitsu, Hitachi và NEC tận dụng sản lượng linh kiện bán dẫn VLSI của Nhật Bản để trình làng siêu máy tính
năm 1988 Cray vẫn chiếm 56% thị phần, nhưng Nhật Bản đã có 37% và đang tấn tới
công ty khởi nghiệp siêu máy tính, ví dụ Thinking Machines và nCUBE, bắt đầu thử nghiệm những siêu máy tính khác, bên cạnh điện toán vector; một là xử lý song song khối lượng lớn [MPP massive parallel processing] phối hợp nhiều vi xử lý thương mại, để thực hiện hàng triệu hoặc hàng tỷ phép toán số thực dấu phẩy động mỗi giây; những vi xử lý đã được mua ở ngoài giá hàng, có hiệu năng trên giá thành tốt
CDC tách-ra [spin-off] công ty siêu máy tính ETA Systems
Cray bỏ đi
nhà thiết kế Steve Chen được ca ngợi là tài năng trẻ đang lên của Cray Research, nhưng tầm nhìn của đội ngũ Chen cho loạt sản phẩm MP sau sản phẩm Cray Y-MP đã vượt quá khả năng tài chính của công ty; 64 bộ xử lý, mạch tích hợp đặt-làm-riêng và thậm chí có thể có dây-nối-trong quang học
năm 1987 Cray Research đã đầu tư vào Cray-3 và Cray Y-MP bên cạnh ba sản phẩm đang có nữa, không còn tiền cho dự án của Steve Chen; cho nên công ty giảm quy mô loạt sản phẩm MP, Steve Chen thôi việc ở Cray Research và khởi nghiệp công ty Supercomputer Systems
năm 1993 sau khi đã nhận 150 triệu đôla đầu tư từ IBM, Ford và Boeing, Supercomputer Systems phá sản
năm 1989 Seymour Cray gia nhập một công ty chia-tách [spin-off] của Cray Research là Cray Computer Corporation [CCC] ở Colorado để làm dự án Cray-3
Cray Research tiếp tục kiến trúc Cray X-MP để gây dựng hệ sinh thái
Cray-3 định sử dụng bóng bán dẫn gali arsenide để tăng tốc độ xung nhịp so với silic, nên cần mua thiết bị chế tạo chip
năm 1991 Liên Xo tan rã, nhiều khách hàng bắt đầu huỷ đơn Cray-3 vì không còn nhu cầu quốc phòng
năm 1995 CCC chỉ bán được một chiếc Cray-3 trước khi phá sản
Seymour Cray sáng lập công ty SRC Computers nghiên cứu thiết kế song song
năm 1966 Seymour mất vì tai nạn ô tô, hưởng thọ 71 tuổi
Cray Research được Silicon Graphics mua lại, sau những thương vụ nữa, nay là Cray Inc thuộc về Hewlett Packard
Công nghệ bán dẫn tiên tiến
năm 2010 kỹ sư điện Chris Fenton thực hiện dự án tái dựng Cray-1A với một bảng mạch phát triển Xilinx Spartan-3E 1600 đặt vào một đóng gói Cray-1 tí hon và đang được đặt ở bảo tàng lịch sử máy tính
ngày nay các hãng chế tạo linh kiện bán dẫn tiên tiến đang gặp những vấn đề Cray đối mặt với siêu máy tính: tản nhiệt, dây nối trong [interconnect], chậm nhập/xuất dữ liệu từ bộ nhớ
Seymour Cray con
năm 1925 Seymour sinh ra ở thành phố Chippewa Falls tiểu bang Wisconsin, là con của một kỹ sư xây dựng dân dụng ở một công ty điện địa phương
sau khi phục vụ trong quân ngũ là một thợ điện, Cray theo học trường đại học Minnesota được học bổng của đạo luật G.I. Bill và tốt nghiệp bằng cử nhân kỹ sư điện và bằng thạc sĩ chuyên ngành toán ứng dụng
năm 1950 Seymour làm cho công ty Engineering Research Associates [ERA] ở St Paul tiểu bang Minnesota
ERA
thế chiến 2, hải quân Mỹ tuyển mộ một nhóm người phá mật mã, đội ngũ có tên là Communications Supplementary Activity - Washington [CSAW] bí mật phát triển một cỗ máy phá mật mã hàng hải phát xít, chủ yếu để truy tìm tàu ngầm Đức
thế chiến kết thúc, chính phủ Mỹ cần phá mật mã Liên Xô nhưng bị cắt giảm ngân sách nên đã không đủ tiền giữ những nhân viên cũ; hải quân đã tìm đến nhân viên ngân hàng đầu tư John Parker để khởi nghiệp một công ty vì-lợi-nhuận thuê tuyển nhóm cũ ở mức lương cao hơn, là ERA
nhân viên ERA chủ yếu làm việc bí mật ở một nhà máy tàu lượn cũ, sản phẩm đầu tiên là những máy phá mật mã; nhóm đã sớm chuyển hướng sang máy tính đa dụng, tận dụng công nghệ mới như bộ nhớ trống từ
máy tính ERA 1101 là phiên bản thương mại của một thiết bị đã bán cho một trong những tổ chức tiền thân của NSA
thập niên 1950 có thể coi Minnesota là thung lũng Silicon, nhờ hiện diện của quân đội, nơi đây là trung tâm máy tính hàng đầu Mỹ
Cray
Cray được đề nghị sản xuất hệ thống điều khiển cho máy tính tiếp theo của ERA, chiếc ERA 1103; hệ thống điều khiển sẽ phân tích những chỉ thị của phần mềm thành những bước thực thi
thiết kế hệ thống điều khiển sẽ cần kiến thức đầu-đến-cuối [front-to-back] của cấu thành máy tính, vì phải điều phối tất cả nguồn lực để thực thi chương trình
'being scrayed' là khi ai đó làm không đúng hoặc quá mất thời gian, Cray sẽ giao việc lại và tự làm lấy
Rand
tháng 12 năm 1951 chủ tịch John Parker bán ERA cho công ty máy tính Remington Rand nhưng không nói với nhân viên, làm tức giận những nhân viên chủ chốt như phó chủ tịch vận hành William Norris
Remington Rand là công ty máy đánh chữ và dao cạo râu, càng kỳ lạ vì trước đó Remington Rand đã mua lại công ty máy tính Eckert-Mauchly
J.Presper Eckert và John Mauchly nổi tiếng làm ra ENIAC là máy tính kỹ thuật số lập-trình-được đầu tiên, và EDVAC tiên phong thiết kế máy tính chương trình được-lưu-trữ, nay là nền móng của kiến trúc Von Neumann
Eckert cũng giảng dạy khoá học đầu tiên về máy tính kỹ thuật số điện tử, những bài giảng Moore School giúp phổ cập kiến trúc Von Neumann (không liên quan đến luật Moore)
và UNIVAC 1 nổi tiếng là đã tiên đoán Dwight Eisenhower thắng cử tổng thống Mỹ năm 1952
ERA chấp nhận thương vụ mua lại, Eckert-Mauchly sẽ tập trung vào thị trường máy tính doanh nghiệp, trong khi ERA tập trung vào điện toán khoa học
Căng thẳng
bấy giờ, máy tính cần được thiết kế cụ thể để xử lý vấn đề doanh nghiệp hoặc vấn đề khoa học; máy tính doanh nghiệp sẽ chỉ làm những tác vụ đơn giản: cộng, trừ và nhân - chỉ chính xác đến 2 chữ số sau dấu phẩy - nhưng cần được thực hiện hàng loạt, hàng nghìn hàng sẽ nhập vào và xuất khỏi máy tính
máy tính khoa học sẽ cần những phép tính phức tạp, chính xác lên đến 20-30 chữ số sau dấu phẩy; máy tính có thể mất hàng giờ, chỉ cho ra một dòng xuất-liệu duy nhất
nhân viên của Eckert-Mauchly ở Philadelphia coi khinh những người ở Minnesota chỉ là 'nông dân' trong khi nhân viên Minnesota coi những người Philadelphia là những lý thuyết gia, chỉ quan tâm đến việc làm sao để máy tính nhanh hơn, bất chấp có khiến máy thường xuyên hư hỏng hay không
năm 1955 Rand sáp nhập với Sperry Corporation để trở thành Sperry Rand, thương vụ đã hợp nhất hai đơn vị độc lập vào một phân nhánh UNIVAC
căng thẳng gia tăng giữa ERA, Eckert và những giám đốc doanh nghiệp mới; tổng giám đốc của phân nhánh, William Norris nói với những người Philadelphia rằng: "các anh quản lý một phòng thí nghiệm, còn ERA quản lý một doanh nghiệp"
khi Sperry tiếp quản, ban giám đốc, trong đó có chủ tịch Harry Vickers cho rằng công ty đang mua lại một tổ chức dẫn đầu thị trường; UNIVAC có tiềm năng trở thành như IBM sau này, nhưng cần vốn, không chỉ cho nghiên cứu phát triển, mà còn vì: bấy giờ, máy tính là ngành kinh doanh cho thuê thiết bị
năm 1957 Norris rời Sperry Rand để sáng lập công ty Control Data Corporation [CDC] là quyết định mạo hiểm, nhưng Norris sẵn sàng: nếu không thành công, ông và gia đình sẽ quay lại làm nông ở Nebraska
Norris mời một số đồng nghiệp ERA gia nhập, Cray nằm trong số người đồng ý; Cray nhận thấy rõ ràng là một điều gì đó xấu, không may mắn sắp xảy ra, sau khi Cray đọc được một hệ thống kế toán đã liệt kê dự án của mình là "999 linh tinh và khác" [999 miscellaneous and other]
CDC
tháng 7 năm 1957 CDC khởi nghiệp với một ít nhân viên, ít kiến thức mơ hồ về cách làm máy tính, và ít tiền vay mượn của bạn bè; không nhà máy, không sản phẩm, CDC phát hành công khai lần đầu [IPO] đứng giữa đường và bán cổ phiếu cho người dân thường, với giá 1 đôla 1 cổ phiếu
nhà bình luận thể thao Sid Hartman của tờ báo Minneapolis Tribune là cựu tổng giám đốc bán-thời-gian của Minneapolis Lakers đã nhắc đến động thái IPO của CDC ở phần cuối của một trong những mục báo thể thao
nhiều nhà đầu tư lớn ở địa phương đã từ chối bỏ tiền vào CDC, một người nói rằng công ty không có một bóng ma hi vọng nào đấu lại IBM
Warren Buffett là cháu trai của William Norris theo hôn nhân, nhưng Buffett từ chối đầu tư vì Buffett không hiểu; 300 nhà đầu tư đã mua cổ phiếu CDC với giá 1 đôla trong thương vụ IPO ấy
CDC 1604
Cray là nhân viên kỹ thuật nhất ở CDC mới, và đã thuyết phục các đồng sáng lập để phát triển máy tính khoa học, thay vì nhắm vào thị trường thương mại; lý do là những khách hàng của công ty - trường đại học và phòng thí nghiệm nghiên cứu vũ khí hạt nhân - không quan tâm nhiều đến quảng cáo và dịch vụ chăm sóc khách hàng; những khách hàng ấy cũng tự lập trình phần mềm riêng
khách hàng muốn sức mạnh điện toán; vì những nghĩa vụ của những hiệp ước, không thể cứ bắn-thử vũ khí hạt nhân mà không tính đến vấn đề môi trường, không dễ đo lường; để nghiên cứu một vụ kích nổ, cần những máy tính để mô phỏng những phản ứng dây chuyền của bom, giải thích cẩn thận tất cả những phương trình từng micro-giây sau khi kích nổ
Cray tin rằng có thể phát triển một máy tính như thế ở mức giá phải chăng, sử dụng bóng bán dẫn; Cray tìm đến cửa hàng điện tử địa phương và thấy họ đang bán những bóng bán dẫn lưỡng cực bị-từ-chối [reject] để trang bị cho radio, với giá rẻ hơn mua từ nhà máy; những bóng bán dẫn bị-từ-chối sẽ cho ra tín hiệu yếu, cho nên Cray cặp với một bóng bán dẫn thứ hai, khuếch đại đầu ra của bóng bán dẫn thứ nhất
thử nghiệm đã cho Cray thấy rằng, nếu thiết kế đúng, ta có thể sử dụng những linh kiện kém-chuẩn [substandard] và vẫn đạt được mục đích
năm 1958 tiền gần cạn, Bill Norris ký hợp đồng với hải quân Mỹ để bán ra CDC 1604 nhưng phải sản xuất hàng loạt - mua một nhà máy và tuyển dụng thêm kỹ sư - Norris và ban giám đốc đã tự giảm một nửa lương, các kỹ sư đã phải lấy cả những bóng bán dẫn là sản phẩm dùng thử của công ty, để trang bị cho máy tính
năm 1960 CDC 1604 mở bán với giá 990 000 đôla, tương đương 10.4 triệu đôla ngày nay; tốc độ xung nhịp 0.4 megahertz, bấy giờ CDC 1604 được coi là máy tính thương mại mạnh mẽ nhất
Siêu máy tính
Control Data không phải doanh nghiệp duy nhất sản xuất máy tính siêu-nhanh cho khách hàng ở thị trường ngách
năm 1960 UNIVAC trình làng Livermore Automatic Reaction Calculator [LARC] giúp kỹ sư hoá chất Edward Teller thực hiện mô phỏng bom khinh khí
LARC làm IBM sợ đến nỗi đã phát triển IBM 7030 STRETCH được thiết kế bởi Gene Amdahl và giữ ngôi vị siêu máy tính mạnh nhất đến năm 1964
LARC và STRETCH chỉ là sản phẩm đặt-làm-riêng, UNIVAC chỉ sản xuất 2 chiếc LARC; trong khi Control Data bán những chiếc 1604 cho trường đại học Illinois, Lockheed và chính phủ Israel... biến chiếc siêu máy tính trở thành một danh mục sản phẩm thương mại
CDC có lãi, thách thức những tập đoàn Rand và IBM; giá cổ phiếu CDC tăng thành 9 đôla đã khiến Norris vất vả ngăn các kỹ sư bán cổ phiếu quá sớm
Niềm hi vọng mới
hướng đến thị trường xử lý dữ liệu doanh nghiệp, Cray và CDC cân nhắc làm thêm một phiên bản của kiến trúc 1604, chế tạo máy tính điều khiển ứng dụng CDC 160A nhỏ hơn
nhưng Cray chỉ muốn phát triển chiếc máy tính nhanh nhất có thể, cộng đồng khoa học thì mới bắt đầu nhận thức một hình thức mô hình hoá máy tính mới - phân tích phần tử hữu hạn - để tiên đoán thời tiết hoặc vụ nổ hạt nhân; phương pháp phần tử hữu hạn đã ngụ ý một nhu cầu vô hạn cho điện toán, Cray muốn tiên phong đáp ứng nhu cầu tốc độ điện toán ấy
Cray doạ sẽ bỏ CDC, khiến Norris đồng ý chia ra 2 nhóm: một sẽ làm phiên bản kế nhiệm 1604, trong khi nhóm của Cray được phép mở phòng thí nghiệm riêng ở thành phố Chippewa Falls, cách nhà Cray không xa
nhóm Cray làm máy tính 6600 nhanh gấp 15 lần so với 1604
CDC 1604
máy 1604 được phát triển với những lõi từ sắt [ferrite magnetic core] làm bộ nhớ chính, và băng từ [magnetic tape] làm lưu trữ thứ cấp; logic sử dụng bóng bán dẫn germani, mọi thứ được xây dựng bên trong những khối cắm-được làm-mát-bằng-không-khí
đổi ý, Cray mua bóng bán dẫn silic phẳng của Fairchild, tự khắc tăng gấp 5 lần tốc độ; Cray cũng không ưa cách tiếp cận khối-xây [building-block] vì nối dây mặt sau [extensive back panel wiring] không chỉ gây ra vấn đề tiếng ồn, mà còn hạn chế đầu-vào/đầu-ra và tăng thời gian truyền tải dữ liệu
cho nên Cray chuyển sang sử dụng những mô đun (cordwood) dày đặc hơn, phức tạp hơn đặt-làm-riêng; dây ngắn hơn đã khiến khó sửa chữa, và cần thay thế làm-mát-bằng-không-khí sang làm-mát-bằng-khí-freon
Tính toán song song
bất cứ hệ thống nào cũng thực hiện những chức năng giữ-nhà bên cạnh tác vụ tính toán chính, chiếc 6600 có 11 máy tính riêng lẻ, có thể thực thi chương trình tách-biệt-khỏi-nhau, chỉ dùng chung một bộ nhớ trung tâm; 10 máy tính sẽ xử lý công việc thứ cấp, ví dụ thiết bị ngoại vi, để máy tính thứ 11 chỉ thực thi những phép toán tốc độ cao
6600 có một CPU sử dụng một kiến trúc tệp lệnh [ISA] định nghĩa những tác vụ cơ bản, do đó cũng định nghĩa cách thức mà phần mềm có thể điều khiển nó
6600 đơn giản hoá ISA, bỏ qua những thứ không liên quan đến tính toán khoa học, ví dụ những chỉ thị xử lý số lượng lớn dữ liệu; tệp lệnh đã cho phép máy tính "vận chuyển" [pipeline] các tác vụ, tách rời một công việc lớn thành những công việc nhỏ hơn - có thể giao việc cho các máy tính ngoại vi để cùng làm
năm 1964 CDC giao hàng chiếc 6600 đầu tiên cho Lawrence Livermore đã làm IBM ngạc nhiên với tốc độ gấp 3 lần 7030
chủ tịch Thomas J.Watson con đã viết một memo gắt gỏng, hỏi rằng: "làm thế nào mà 34 nhân viên - trong đó có cả lao công - đánh bại tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới?" - câu trả lời là, đương nhiên, kiến trúc IBM không thể đánh đổi khả năng tương thích để lấy tốc độ
Bất mãn
Norris và các giám đốc khác đã tiếp tục gây dựng việc kinh doanh, CDC sản xuất những thiết bị ngoại vi và phần mềm để bán kèm máy tính, gây dựng một mảng kinh doanh dịch vụ
CDC mua lại công ty tài chính tiêu dùng Commercial Credit với ý định sử dụng vốn hoạt động 3.4 tỷ đôla của mình để tài trợ chiến lược cho thuê máy tính; chiến lược phản phé sau khi Commercial Credit gặp khó
hơn một trăm máy CDC 6600 được bán ra cho 50 khách hàng lớn khắp thế giới, ví dụ uỷ ban năng lượng nguyên tử; mỗi máy có giá 8 triệu đôla, tương đương 23 triệu đôla ngày nay
ban giám đốc của CDC tin rằng thiết bị ngoại vi và dịch vụ là tương lai của công ty, không phải phần cứng
CDC mở bán chiếc 7600 nhanh gấp 5 lần chiếc 6600 và được ca ngợi là máy tính nhanh nhất; mặc dù chỉ đắt gấp đôi 6600, chiếc 7600 ế vì máy thường hư hỏng và điều kiện kinh tế vĩ mô yếu
CDC mở bán chiếc 8600 được làm với những bóng bán dẫn rời rạc, nhưng Cray muốn tốc độ xung nhịp 8 nano-giây; tức là tất cả dây dẫn sẽ ngắn hơn 2.5 mét, dày đặc đến nỗi Cray không biết cách nào để làm mát; sau nhiều tháng, Cray vứt bỏ hết và làm lại từ scratch theo "phong cách của Cray" [Cray way]
năm 1971 CDC đang giữa vụ kiện chống độc quyền với IBM, dòng tiền đang thấp, Cray bị yêu cầu giảm 10% chi phí; không muốn giảm chi phí, Cray tự giảm lương của bản thân xuống mức lương tối thiểu là 1.25 đôla mỗi giờ
sau rốt, Norris bảo Cray rằng không thể làm lại như những lần trước; công ty đã bán-trước [pre-sell] hai hệ thống 8600
năm 1976 Cray rời CDC và khởi nghiệp công ty Cray Research
Cray-1
sáng lập Cray Research với số vốn 2.5 triệu đôla, trong đó 20% là tiền túi của Cray, còn lại là vay ngân hàng, mục tiêu của công ty là phát triển chiếc máy tính lớn nhất, như một kiệt tác
Norris và CDC tổ chức bữa trưa tạm biệt và đã đầu tư 250 000 đôla vào công ty mới, Norris gọi ấy là 'tiền tâm huyết' [heart money]
Cray 1 đã được Cray trình làng ý tưởng mới: xử lý vector [vector processing]; bấy giờ, hầu hết máy tính sử dụng 'xử lý vô hướng' tức là xử lý lần lượt từng vật phẩm dữ liệu, ví dụ số nguyên, hoặc số thức dấu phẩy động
ví dụ tác vụ cộng 1 với 1, CPU vô hướng sẽ tải số 1 đầu tiên từ bộ nhớ vào register, tải số 1 thứ hai, cộng, và sau đó lưu trữ kết quả vào bộ nhớ; đếm thấy, tác vụ này sử dụng 4 chỉ thị; vậy là nếu cộng 2 tập hợp 20 số, sẽ là 80 chỉ thị cho CPU vô hướng phải xử lý
CPU vector sẽ làm tắt bằng cách xử lý những mảng dữ liệu một-chiều; ví dụ 2 vector, mỗi vector chứa 20 số, tải 2 vector vào register, cộng và lưu trữ vector kết quả vào bộ nhớ; sẽ chỉ sử dụng 4 chỉ thị
CDC có một nhóm nhỏ đang làm việc cho dự án máy tính vector STAR-100 đã không đạt được kỳ vọng, CDC giao hàng muộn mất 4 năm và chỉ bán được 3 chiếc
Cray nghiên cứu STAR-100 và thấy khuyết điểm: một, xử lý vô hướng của STAR-100 bị chậm đã nghẽn-cổ-chai hiệu năng của toàn hệ thống
hai, thực thi xử lý vector của STAR-100 có một cú hích: trước khi chạy phép cộng hai vector, phải tải cả hai vector vào register; gửi kết quả về bộ nhớ cũng thế, quá mất thời gian
xử lý vector [process] có nhanh thế nào, so với xử lý vô hướng, cũng vô ích nếu xử lý các vector [handle] quá lâu, cho nên Cray trình làng vector register hoạt động như bộ nhớ cache
Seymour quyết định lần đầu tiên trang bị mạch tích hợp, nhờ thế đã tăng mật độ và giảm dây dẫn, cho phép Cray-1 nhỏ hơn những thiết bị tiền nhiệm; bấy giờ IC đã 14 năm tuổi, Cray lựa chọn những công nghệ cũ - "lạc hậu cả chục năm" Cray nói - vì đáng tin cậy hơn
nhưng Cray không thoả hiệp bộ nhớ, tự phá vỡ nguyên tắc của bản thân và mua chip bộ nhớ bán dẫn lưỡng cực, thay thế bộ nhớ lõi; rẻ hơn, mật độ cao hơn và tiết kiệm điện hơn
tốc độ xung nhịp 12.5 nano-giây đã nhanh gấp 5 lần CDC 7600 cho nên tất cả dây dẫn trong máy đã phải ngắn hơn 122 cm; Cray-1 có hình trụ, bên trong chứa hệ thống làm mát mới, vẻ ngoài tinh tế, khác với thiết kế hộp xám phổ biến bấy giờ; Cray-1 có cả đệm
năm 1976 Cray-1 trình làng và được bán 100 chiếc cho các chính phủ và phòng thí nghiệm của các trường đại học; ví dụ trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia, và bộ quốc phòng
từ năm 1978 đến 1979 Cray Research tăng trưởng 150% doanh thu, và tăng thêm 50% năm sau đó; mỗi tháng có 1 đơn đặt hàng, cỗ máy Cray-1 có giá bán 8 triệu đôla
CDC đã thử sản xuất máy tính vector riêng, ví dụ Cyber-205, nhưng không cạnh tranh lại, đã thua lỗ tài chính và sau rốt đã phải tách công ty ra bán dần
giữa thập niên 1980 mảng kinh doanh lãi nhất của CDC là Ticketron đối thủ của Ticketmaster
Thành công
khi Cray-1 ở giai đoạn cuối của việc phát triển, Seymour đã bắt đầu phát triển chiếc Cray-2 hứa hẹn tốc độ xung nhịp gấp 3 đến 6 lần nhanh hơn tiền nhiệm; yêu cầu dây dẫn không được dài hơn 40 cm và do đó lại dấy lên vấn đề toả nhiệt như chiếc 8600 đã gặp phải
để tài trợ việc phát triển ban đầu, Cray Research phát hành công khai lần đầu, khiến Seymour Cray mang trách nhiệm với cổ đông
vì từng chiếc Cray-1 được nối-dây-thủ-công và đặt-làm-riêng như siêu xe, công ty buộc phải thuê thêm nhân viên để kịp sản xuất và giao hàng cho đơn của khách
từ năm 1978 đến 1980 Cray Research tăng từ 300 đến 500 nhân viên, đỉnh điểm tuyển dụng 5000 người ở Chippewa Falls
Lại tiến thoái lưỡng nan
khách hàng đã không còn tiền viết lại phần mềm cho mỗi lần mua máy mới nữa, khách hàng muốn tính di động [portability] cho nên khách hàng muốn cải tiến Cray-1 thay vì mua chiếc Cray-2 hoàn toàn khác
sau rốt, ban giám đốc Cray Research trong đó có giám đốc điều hành John Rollwagen lại chơi nước đôi, chào bán chiếc Cray-1s nâng cấp của chiếc Cray-1
năm 1981 Seymour Cray từ chức chủ tịch, nhường lại cho John Rollwagen và trở thành nhân viên hợp đồng, để phát triển Cray-2 ở Boulder tiểu bang Colorado
Cray X-MP
năm 1985 sau ba lần thất bại ở hệ thống làm mát, chiếc Cray-2 trình làng, nổi tiếng với hệ thống làm mát nhúng chất lỏng, máy trông giống như bể cá; tuy nhiên, độ trễ bộ nhớ đã khiến hệ thống kém-hiệu-năng so với tiềm năng
năm 1983 cộng tác viên Les Davis lâu năm của Cray và nhà thiết kế trẻ Steve Chen gốc Đài Loan đã dẫn dắt nhóm Cray X-MP trình làng xử lý song song, với 4 CPU và những linh kiện bán dẫn lưu trữ thể rắn; Cray X-MP nhanh gấp 2-5 lần so với Cray-1s
năm 1989 chỉ bán ra 24 chiếc Cray-2 so với 200 chiếc Cray X-MP và bản kế nhiệm Cray Y-MP được bán ra
Áp lực mới
thập niên 1970 Cray không có đối thủ cạnh tranh ở ngách thị trường của mình
thập niên 1980 Fujitsu, Hitachi và NEC tận dụng sản lượng linh kiện bán dẫn VLSI của Nhật Bản để trình làng siêu máy tính
năm 1988 Cray vẫn chiếm 56% thị phần, nhưng Nhật Bản đã có 37% và đang tấn tới
công ty khởi nghiệp siêu máy tính, ví dụ Thinking Machines và nCUBE, bắt đầu thử nghiệm những siêu máy tính khác, bên cạnh điện toán vector; một là xử lý song song khối lượng lớn [MPP massive parallel processing] phối hợp nhiều vi xử lý thương mại, để thực hiện hàng triệu hoặc hàng tỷ phép toán số thực dấu phẩy động mỗi giây; những vi xử lý đã được mua ở ngoài giá hàng, có hiệu năng trên giá thành tốt
CDC tách-ra [spin-off] công ty siêu máy tính ETA Systems
Cray bỏ đi
nhà thiết kế Steve Chen được ca ngợi là tài năng trẻ đang lên của Cray Research, nhưng tầm nhìn của đội ngũ Chen cho loạt sản phẩm MP sau sản phẩm Cray Y-MP đã vượt quá khả năng tài chính của công ty; 64 bộ xử lý, mạch tích hợp đặt-làm-riêng và thậm chí có thể có dây-nối-trong quang học
năm 1987 Cray Research đã đầu tư vào Cray-3 và Cray Y-MP bên cạnh ba sản phẩm đang có nữa, không còn tiền cho dự án của Steve Chen; cho nên công ty giảm quy mô loạt sản phẩm MP, Steve Chen thôi việc ở Cray Research và khởi nghiệp công ty Supercomputer Systems
năm 1993 sau khi đã nhận 150 triệu đôla đầu tư từ IBM, Ford và Boeing, Supercomputer Systems phá sản
năm 1989 Seymour Cray gia nhập một công ty chia-tách [spin-off] của Cray Research là Cray Computer Corporation [CCC] ở Colorado để làm dự án Cray-3
Cray Research tiếp tục kiến trúc Cray X-MP để gây dựng hệ sinh thái
Cray-3 định sử dụng bóng bán dẫn gali arsenide để tăng tốc độ xung nhịp so với silic, nên cần mua thiết bị chế tạo chip
năm 1991 Liên Xo tan rã, nhiều khách hàng bắt đầu huỷ đơn Cray-3 vì không còn nhu cầu quốc phòng
năm 1995 CCC chỉ bán được một chiếc Cray-3 trước khi phá sản
Seymour Cray sáng lập công ty SRC Computers nghiên cứu thiết kế song song
năm 1966 Seymour mất vì tai nạn ô tô, hưởng thọ 71 tuổi
Cray Research được Silicon Graphics mua lại, sau những thương vụ nữa, nay là Cray Inc thuộc về Hewlett Packard
Công nghệ bán dẫn tiên tiến
năm 2010 kỹ sư điện Chris Fenton thực hiện dự án tái dựng Cray-1A với một bảng mạch phát triển Xilinx Spartan-3E 1600 đặt vào một đóng gói Cray-1 tí hon và đang được đặt ở bảo tàng lịch sử máy tính
ngày nay các hãng chế tạo linh kiện bán dẫn tiên tiến đang gặp những vấn đề Cray đối mặt với siêu máy tính: tản nhiệt, dây nối trong [interconnect], chậm nhập/xuất dữ liệu từ bộ nhớ
Nga - tộc Tatar bán đảo Crimea thế kỷ 16 cướp bắt người Circassia bán sang Ottoman làm nô lệ
ngày 25 tháng 5 năm 2020 Lịch sử thế giới phương Tây tagged bán đảo crimea, nga, tactar. Huỳnh Quyền Huỳnh / ncls group
Các cuộc tấn công của dân du mục Tatar từ bán đảo Krym
thế kỷ XV Kim trướng Hãn quốc do người Mông Cổ thành lập sụp đổ, tộc trưởng địa phương Haci I Giray (1397 – 1466) xuất thân là hậu duệ của Truật Xích, con trai của Thành Cát Tư Hãn, đã tranh thủ ly khai khỏi Kim trướng để lập ra Crimea Hãn quốc và lên ngôi Khả hãn năm 1449. Lãnh thổ Hãn quốc Krym bao gồm bán đảo Crimea cũng như vùng thảo nguyên liền kề (trừ khu đô thị ven biển như Kaffa là thuộc địa của Cộng hòa Genoa) năm 1475 quân Ottoman dưới trướng Gedik Ahmet Pasha (ảnh trên) tấn công Crimea, xoá sổ hết các thuộc địa của những người Genoa theo Công giáo và cầm tù Meñli I Giray (ảnh dưới) con trai của Haci I Giray trong ba năm vì chống lại cuộc xâm lược. Sau khi Meñli I Giray chấp nhận thần phục, người Thổ công nhận Crimea Hãn quốc là một đồng minh lệ thuộc vào triều đình Ottoman và trả tự do cho ông ta Crimea Hãn Quốc được nhà Ottoman bảo kê đã buôn bán nô lệ là người Circassia, dữ liệu Ottoman ghi nhận 2 triệu nô lệ Circassia bị bán ở chợ nô lệ ở Ottoman từ năm 1468 đến 1694, chủ yếu là do quân Crimea Tatar bắt, phần lớn số nô lệ này bị ép làm nô lệ tình dục cho khách hàng Đột Quyết [Turk], bị người Ottoman gọi là chợ cô dâu [wife Bazaar] Avret Pazarları trước kia Crimea Hãn Quốc sống nhờ tiền thuê đất hàng năm từ các cứ điểm thương mại của người Genoa trên bán đảo Krym giao nộp và một phần đáng kể của dân số du mục Tatar ở Crimea đã chuyển qua làm nông dân trồng trọt cho người Genoa nhưng sau khi quân Ottoman hủy diệt tất cả các cứ điểm thương mại này, giới quý tộc Crimea bị khánh kiệt đã chuyển sang kiếm tiền bằng cách tiến hành đột kích cướp bóc, bắt người ở vùng nay là Nga, Ukraina và Ba Lan, bán làm nô lệ người Krym Tatar thường xuyên tiến hành các cuộc tấn công vào các quốc gia Ba Lan – Litva và thân vương quốc Muscovy để bắt người đem bán làm nô lệ. Đối với mỗi tù nhân, khả hãn Crimea đánh thuế cố định là 10% hoặc 20% doanh thu bán nô lệ. Chỉ riêng trong nửa đầu thế kỷ 17, từ 15 đến 20 vạn người đã bị bắt làm nô lệ từ lãnh thổ của thân vương quốc Muscovy, tiền thân nhà nước Nga ngày nay. Các cuộc đột kích đã diễn ra liên tục thế kỷ 16 – 17 , khi chúng xuất hiện gần như mỗi mùa hè các cuộc đột kích là một yếu tố nghiêm trọng làm cạn kiệt cả nguồn lực vật chất và con người của Nga và Khối thịnh vượng chung Ba Lan – Litva (ảnh dưới). Để phòng thủ chống quân Crimea Tatar, các biện pháp quy mô lớn và tốn kém đã được thực hiện ở Nga, bao gồm việc xây dựng một hệ thống phòng thủ dài hàng trăm km và duy trì lực lượng đồn trú bảo vệ biên giới Chiến thuật của dân du mục
lãnh thổ giữa Krym và thân vương quốc Mátxcơva là một cánh đồng hoang vắng mênh mông với đất đai màu mỡ và con sông Oka (ảnh dưới) biên giới và cuối cùng trên con đường của người Tatar hướng đến Moscow cách thức chiến tranh của người Tatars là họ chia thành nhiều nhóm nhỏ và cố gắng thu hút người Nga đến một hoặc hai nơi trên biên giới, sau đó họ có thể tự do đột kích biên giới và cướp bóc, bắt người ở bất kỳ nơi nào không có binh lính bảo vệ. Trong khi 2-3 vạn kỵ binh Tatar đánh lạc hướng sự chú ý của các lực lượng biên phòng của Nga, các đơn vị nhỏ khác đã có thể tàn phá và quay trở lại mà không bị thiệt hại nhiều. Khi đến khu vực có người Nga sinh sống, quân Tatar được chia thành nhiều đội gồm vài trăm người, lần lượt được tách ra khỏi lực lượng chính. Những biệt đội này bao vây các ngôi làng ở cả bốn phía để cư dân không thể bỏ trốn, sau đó chúng cướp, đốt, tàn sát những người chống cự và dẫn đi không chỉ đàn ông, phụ nữ, trẻ em mà còn cả bò, ngựa, cừu, dê Quân Crimea Tatar buôn bán nô lệ Nga
địa điểm chính của buôn bán nô lệ là thành phố Kaffa (ảnh trên) Crimea, thuộc sở hữu trực tiếp của Đế chế Ottoman từ năm 1475 và được một đơn vị đồn trú Janissaries tinh nhuệ (ảnh dưới) phòng thủ những nô lệ (ảnh dưới: người Circassia ở Nga) trên đường đi đến Krym vô cùng thê thảm khi tay bị trói, dây thừng buộc quanh cổ như súc vật và liên tục bị quất bằng roi không ngừng dọc theo thảo nguyên mênh mông. Đến được vùng đất tương đối an toàn người Tatar cho ngựa của họ vào thảo nguyên để chăn thả tự do và họ bắt đầu chia sẻ nô lệ, đánh dấu từng nô lệ bằng sắt nóng đỏ. Các cô gái có thể bị hãm hiếp trước mặt những người thân yêu. Crimea Tatar cắt cổ họng của tất cả những người già trên 60 tuổi, không có khả năng làm việc ở Krym, những người bị bắt được mang đi bán ở các chợ nô lệ, nơi chúng đặt từng người trong một chuỗi bị xích vào nhau gần cổ. Khi mua, những nô lệ được mang ra cho người mua kiểm tra cẩn thận. Người Tatar đặc biệt ra giá cao cho những cô gái xinh đẹp. Các nô lệ (ảnh dưới: người Circassia ở Thổ Nhĩ Kỳ) bị bán đến các vùng đất xa xôi như Thổ Nhĩ Kỳ, Palestine, Syria, Ba Tư, Ấn Độ…mãi mãi không bao giờ còn được gặp lại người thân của họ. Trong cuộc hành trình dài như vậy những người nô lệ phải chịu đựng cảnh chật chội đến nỗi họ không thể di chuyển cũng không nằm xuống sàn được. Đứng ăn và đứng ngủ. Từ một chuyến đi chật chội và mệt mỏi như vậy, những người nô lệ bị bệnh hàng loạt và nếu như chết thì thi thể của họ bị vứt xuống biển những người đàn ông khỏe mạnh bị đóng dấu trên trán và thường bị thiến đã phải lao động xây dựng trong các công trường còn nhiều người khác phải trở thành người chèo thuyền, nơi họ bị xích vào băng ghế và chèo cho đến khi kiệt sức đến thế kỷ 18 khi nước Nga đã trở thành một đế chế hùng mạnh dưới thời Ekaterina II (ảnh dưới) năm 1769, cuộc đột kích lớn của kỵ binh Tatar đã bắt giữ 2 vạn nô lệ Nga. Mọi chuyện chỉ kết thúc khi nữ hoàng Ekaterina II tài ba gốc Đức tiêu diệt hoàn toàn Crimea Hãn quốc và sáp nhập Krym vào đế chế Nga ngày 19 tháng 4 năm 1783 trong các công trình phòng thủ mà những cộng đồng cư dân nông nghiệp xây dựng để chống lại các cuộc đột kích cướp bóc của dân du mục man rợ, nổi tiếng Vạn Lý Trường Thành dài 6000 km được các triều đại phong kiến Trung Quốc xây dựng để ngăn chặn kỵ binh du mục tấn công từ phương bắc. Thân vương quốc Mátcơva phong kiến cũng từng xây dựng một hệ thống phòng thủ dài hàng trăm km từ Bryansk đến Ryazan dọc theo sông Oka để chống lại dân du mục, nhưng là từ hướng nam. Việc xây dựng hoàn thành năm 1566 dưới thời Sa hoàng Ivan đệ tứ (ảnh dưới) Bức trường thành Nga
từ thế kỷ XVI, chính quyền Mátcơva dưới thời Ivan Bạo Chúa đã bắt đầu nỗ lực để xây dựng một hệ thống phòng thủ kéo dài hàng trăm km nhằm ngăn chặn các vụ đột kích của kỵ binh Tatars. Xây dựng cũng như duy trì các tuyến phòng thủ và quân đội dọc biên giới thảo nguyên rộng lớn, nơi gần như không có rào cản tự nhiên rất tốn kém và là gánh nặng nề cho nhà nước, đòi hỏi một phần đáng kể ngân sách quốc gia nhưng đây là khoản chi không thể tránh khỏi. Ngoài ra các Sa hoàng còn thu thêm một loại thuế để chuộc những người bị quân Tatars bắt cóc với giá từ 50-200 rúp tùy người các hàng rào phòng thủ trải dài hàng trăm km từ rừng Bryansk (ảnh dưới) đến Pereyaslavl-Ryazan và phần phía đông nam của nó trải dài từ Skopin đến Shatsk ba thập niên 1630-1650 phòng tuyến Belgorod được xây dựng chạy 300-400 km về phía nam của các tuyến phòng thủ trước đó. Phòng tuyến bao gồm các cấu trúc phức tạp như pháo đài lẫn các chướng ngại vật tự nhiên (đầm lầy, rừng, sông). Phòng tuyến dài 600 km, lên tới 800 km nếu bao gồm cả các khúc quanh uốn lượn theo địa hình năm 1679-1681 người Nga tiếp tục xây dựng phòng tuyến Izyumskaya với chiều dài 530 km (cách tuyến Belgorod 150-200 km về phía nam) và trong những năm 1680 ở Trung Volga là phòng tuyến Syzranskaya . Năm 1731-1733, phía nam của phòng tuyến Izyumsky, phòng tuyến Ukraine tiếp tục được thiết lập với tổng chiều dài là hơn 400 km bao gồm 16 pháo đài mới được xây dựng khi xây dựng các tuyến phòng thủ mới, hiệu quả của các cuộc tấn công từ dân du mục Tatars ở Crimea giảm xuống rõ rệt bởi vì chúng không thể xâm nhập sâu vào lãnh thổ. Phòng tuyến không thể cản quân Tatars âm thầm vượt qua trong đêm nhưng sẽ gây ra nhiều phiền phức khi chúng rút lui cùng với hàng đoàn nô lệ, từ đó cho phép những người bảo vệ có thêm thời gian để truy đuổi chúng, ngăn chúng rút lui an toàn cùng với chiến lợi phẩm. Kỵ binh Tatars sau này thường trở về từ các chiến dịch mà không có chiến lợi phẩm gì. Ngoài ra người Tatars không có đủ súng đã chịu tổn thất lớn trước các quân đội châu Âu và Nga với trang bị hiện đại hơn. Nước Nga dần dần đã quá mạnh để kỵ binh du mục có thể cướp bóc thời đại của các cuộc tấn công nô lệ lớn ở Nga và Ukraine đã dần đến hồi kết thúc, mặc dù những kẻ đột kích vẫn tiếp tục các cuộc tấn công của họ và sự thù hận của Nga đối với Crimea Hãn quốc không hề suy giảm theo thời gian nửa đầu thế kỷ XVII, người Kalmyk (ảnh trên) gốc Mông Cổ đã thành lập Kalmyk Hãn quốc ở phía Bắc dãy núi Kavkaz. Là những tín đồ Phật giáo Tây Tạng, dân Kalmyk là kẻ thù tự nhiên của Crimea Hãn quốc và người Ottoman theo Hồi giáo. Người Kalmyk là một đồng minh quan trọng của Đế quốc Nga và kỵ binh Kalmyk đã tham gia tích cực vào tất cả các chiến dịch của Nga trong thế kỷ XVII và XVIII, cung cấp hàng chục ngàn kỵ binh được trang bị đầy đủ Pyotr đại Đế cải tiến quân đội
trước thế kỷ XVIII, trong suốt hàng trăm năm nước Nga chỉ có một đạo quân lạc hậu, được huấn luyện kém cỏi và nghiệp dư theo kiểu tương tự các đạo quân châu Á để bảo vệ đường biên giới bao la của nó. Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Sa hoàng Pyotr (ảnh trên) cầm quyền đã quyết tâm hiện đại hóa nước Nga, nhất là về quân sự. Khi qua đời năm 1725 ông đã để lại một đội 20 vạn quân – bảy tiểu đoàn Cận vệ, năm mươi trung đoàn bộ binh và ba mươi trung đoàn kỵ binh. Ngoài một vài đơn vị khinh kỵ binh thì phần còn lại chủ yếu là quân đồn trú. Đến năm 1730, ba trung đoàn thiết kỵ binh đã được thành lập và mười bốn trung đoàn dân quân để bảo vệ các đường biên giới Ukraine chống lại dân du mục. Đến năm 1740, Sa hoàng Nga có 24 vạn quân dưới quyền, và năm 1750 là 27 vạn – không kể hơn 5 vạn quân không thường trực, chủ yếu là người Cossacks và Kalmyks. Mặc dù quân đội đã phát triển quy mô nhưng về cơ bản, nước Nga không thể huy động nhiều hơn 12 vạn quân mỗi chiến dịch vì binh lính phải chia ra trấn giữ lãnh thổ rộng lớn Nga thôn tính Krym Hãn Quốc
ngày 20 tháng 5 năm 1736, 62000 quân Nga dưới sự chỉ huy của nguyên soái Christoph von Münnich (ảnh trên) người Đức chiếm pháo đài tại eo đất Perekop nối đất liền tới bán đảo Crimea, và ngày 17 tháng 6 chiếm Bakhchysarai trong khi một đạo 28000 quân Nga dưới trướng Peter von Lacy (ảnh dưới) người Ailen cũng chiếm pháo đài của quân Ottoman ở Azov, mở được con đường thông ra biển Đen. Quân Tatars đã bao vây lực lượng xâm lược ngay khi nó vượt qua eo đất Perekop nhưng các trung đoàn Nga được huấn luyện kỹ lưỡng đã mau chóng hình thành thành đội hình ô vuông để bẻ gãy các đợt tấn công của kỵ binh du mục và hành quân thẳng đến thủ đô Bakhchysarai mặc dù thành công trên chiến trường nhưng sự bùng phát của dịch bệnh kết hợp với nguồn cung hậu cần không đủ khiến quân Nga phải rút lui. Một phần ba quân đội đã ngã bệnh và phần còn lại đã kiệt sức vì cái nóng. Năm 1737 quân Nga phá thành Ochakov (ảnh dưới) trên cửa sông Dnieper, chiếm tám mươi hai khẩu pháo bằng đồng. Tuy nhiên, gốc rễ của vấn đề, theo một sĩ quan có kinh nghiệm, không phải là kẻ thù. ‘giặc Thổ Nhĩ Kỳ và giặc Tatars là những gì [quân đội] ít sợ nhất; đói, khát, trừng phạt, mệt mỏi liên tục, những cuộc hành quân trong cái nóng mạnh nhất của mùa hè đã gây tử vong nhiều hơn’. Và sau đó bệnh dịch hạch bùng phát trong quân đội tại Ochakov năm 1738 và nhanh chóng lan sang Ukraine. Không có gì ngạc nhiên khi vào cuối chiến dịch mỗi trung đoàn đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, một số đến 50% chiến dịch Crimea đã kết thúc khi Nga rút về Ukraine với 3 vạn người thiệt mạng, chỉ 2000 người do các nguyên nhân liên quan đến chiến tranh và phần còn lại là do bệnh tật và nạn đói năm 1774 sau cuộc chiến tranh Nga thắng Thổ, người Thổ ký hiệp ước chấp nhận Crimea Hãn quốc trở thành một quốc gia độc lập khỏi Ottoman và Crimea chuyển sang thần phục Nga hoàng. Người Tatar ở Crimea không có mong muốn độc lập và giữ một tình cảm gắn bó mạnh mẽ với Đế chế Ottoman. Trong vòng hai tháng kể từ ngày ký hiệp ước, chính phủ của Hãn quốc đã phái sứ thần đến Ottoman, yêu cầu họ “hủy các điều kiện độc lập” tuy nhiên, Ottoman đã bỏ qua yêu cầu này vì không muốn vi phạm thỏa thuận với Nga tháng 4 năm 1783 nữ hoàng Ekaterina đệ nhị (ảnh trên) công bố sáp nhập Crimea trở thành một tỉnh thuộc đế quốc Nga với tên gọi là Taurida. Kể từ đây, các cuộc cướp bóc nô lệ của hãn quốc Krym chỉ còn là quá khứ
Các cuộc tấn công của dân du mục Tatar từ bán đảo Krym
thế kỷ XV Kim trướng Hãn quốc do người Mông Cổ thành lập sụp đổ, tộc trưởng địa phương Haci I Giray (1397 – 1466) xuất thân là hậu duệ của Truật Xích, con trai của Thành Cát Tư Hãn, đã tranh thủ ly khai khỏi Kim trướng để lập ra Crimea Hãn quốc và lên ngôi Khả hãn năm 1449. Lãnh thổ Hãn quốc Krym bao gồm bán đảo Crimea cũng như vùng thảo nguyên liền kề (trừ khu đô thị ven biển như Kaffa là thuộc địa của Cộng hòa Genoa) năm 1475 quân Ottoman dưới trướng Gedik Ahmet Pasha (ảnh trên) tấn công Crimea, xoá sổ hết các thuộc địa của những người Genoa theo Công giáo và cầm tù Meñli I Giray (ảnh dưới) con trai của Haci I Giray trong ba năm vì chống lại cuộc xâm lược. Sau khi Meñli I Giray chấp nhận thần phục, người Thổ công nhận Crimea Hãn quốc là một đồng minh lệ thuộc vào triều đình Ottoman và trả tự do cho ông ta Crimea Hãn Quốc được nhà Ottoman bảo kê đã buôn bán nô lệ là người Circassia, dữ liệu Ottoman ghi nhận 2 triệu nô lệ Circassia bị bán ở chợ nô lệ ở Ottoman từ năm 1468 đến 1694, chủ yếu là do quân Crimea Tatar bắt, phần lớn số nô lệ này bị ép làm nô lệ tình dục cho khách hàng Đột Quyết [Turk], bị người Ottoman gọi là chợ cô dâu [wife Bazaar] Avret Pazarları trước kia Crimea Hãn Quốc sống nhờ tiền thuê đất hàng năm từ các cứ điểm thương mại của người Genoa trên bán đảo Krym giao nộp và một phần đáng kể của dân số du mục Tatar ở Crimea đã chuyển qua làm nông dân trồng trọt cho người Genoa nhưng sau khi quân Ottoman hủy diệt tất cả các cứ điểm thương mại này, giới quý tộc Crimea bị khánh kiệt đã chuyển sang kiếm tiền bằng cách tiến hành đột kích cướp bóc, bắt người ở vùng nay là Nga, Ukraina và Ba Lan, bán làm nô lệ người Krym Tatar thường xuyên tiến hành các cuộc tấn công vào các quốc gia Ba Lan – Litva và thân vương quốc Muscovy để bắt người đem bán làm nô lệ. Đối với mỗi tù nhân, khả hãn Crimea đánh thuế cố định là 10% hoặc 20% doanh thu bán nô lệ. Chỉ riêng trong nửa đầu thế kỷ 17, từ 15 đến 20 vạn người đã bị bắt làm nô lệ từ lãnh thổ của thân vương quốc Muscovy, tiền thân nhà nước Nga ngày nay. Các cuộc đột kích đã diễn ra liên tục thế kỷ 16 – 17 , khi chúng xuất hiện gần như mỗi mùa hè các cuộc đột kích là một yếu tố nghiêm trọng làm cạn kiệt cả nguồn lực vật chất và con người của Nga và Khối thịnh vượng chung Ba Lan – Litva (ảnh dưới). Để phòng thủ chống quân Crimea Tatar, các biện pháp quy mô lớn và tốn kém đã được thực hiện ở Nga, bao gồm việc xây dựng một hệ thống phòng thủ dài hàng trăm km và duy trì lực lượng đồn trú bảo vệ biên giới Chiến thuật của dân du mục
lãnh thổ giữa Krym và thân vương quốc Mátxcơva là một cánh đồng hoang vắng mênh mông với đất đai màu mỡ và con sông Oka (ảnh dưới) biên giới và cuối cùng trên con đường của người Tatar hướng đến Moscow cách thức chiến tranh của người Tatars là họ chia thành nhiều nhóm nhỏ và cố gắng thu hút người Nga đến một hoặc hai nơi trên biên giới, sau đó họ có thể tự do đột kích biên giới và cướp bóc, bắt người ở bất kỳ nơi nào không có binh lính bảo vệ. Trong khi 2-3 vạn kỵ binh Tatar đánh lạc hướng sự chú ý của các lực lượng biên phòng của Nga, các đơn vị nhỏ khác đã có thể tàn phá và quay trở lại mà không bị thiệt hại nhiều. Khi đến khu vực có người Nga sinh sống, quân Tatar được chia thành nhiều đội gồm vài trăm người, lần lượt được tách ra khỏi lực lượng chính. Những biệt đội này bao vây các ngôi làng ở cả bốn phía để cư dân không thể bỏ trốn, sau đó chúng cướp, đốt, tàn sát những người chống cự và dẫn đi không chỉ đàn ông, phụ nữ, trẻ em mà còn cả bò, ngựa, cừu, dê Quân Crimea Tatar buôn bán nô lệ Nga
địa điểm chính của buôn bán nô lệ là thành phố Kaffa (ảnh trên) Crimea, thuộc sở hữu trực tiếp của Đế chế Ottoman từ năm 1475 và được một đơn vị đồn trú Janissaries tinh nhuệ (ảnh dưới) phòng thủ những nô lệ (ảnh dưới: người Circassia ở Nga) trên đường đi đến Krym vô cùng thê thảm khi tay bị trói, dây thừng buộc quanh cổ như súc vật và liên tục bị quất bằng roi không ngừng dọc theo thảo nguyên mênh mông. Đến được vùng đất tương đối an toàn người Tatar cho ngựa của họ vào thảo nguyên để chăn thả tự do và họ bắt đầu chia sẻ nô lệ, đánh dấu từng nô lệ bằng sắt nóng đỏ. Các cô gái có thể bị hãm hiếp trước mặt những người thân yêu. Crimea Tatar cắt cổ họng của tất cả những người già trên 60 tuổi, không có khả năng làm việc ở Krym, những người bị bắt được mang đi bán ở các chợ nô lệ, nơi chúng đặt từng người trong một chuỗi bị xích vào nhau gần cổ. Khi mua, những nô lệ được mang ra cho người mua kiểm tra cẩn thận. Người Tatar đặc biệt ra giá cao cho những cô gái xinh đẹp. Các nô lệ (ảnh dưới: người Circassia ở Thổ Nhĩ Kỳ) bị bán đến các vùng đất xa xôi như Thổ Nhĩ Kỳ, Palestine, Syria, Ba Tư, Ấn Độ…mãi mãi không bao giờ còn được gặp lại người thân của họ. Trong cuộc hành trình dài như vậy những người nô lệ phải chịu đựng cảnh chật chội đến nỗi họ không thể di chuyển cũng không nằm xuống sàn được. Đứng ăn và đứng ngủ. Từ một chuyến đi chật chội và mệt mỏi như vậy, những người nô lệ bị bệnh hàng loạt và nếu như chết thì thi thể của họ bị vứt xuống biển những người đàn ông khỏe mạnh bị đóng dấu trên trán và thường bị thiến đã phải lao động xây dựng trong các công trường còn nhiều người khác phải trở thành người chèo thuyền, nơi họ bị xích vào băng ghế và chèo cho đến khi kiệt sức đến thế kỷ 18 khi nước Nga đã trở thành một đế chế hùng mạnh dưới thời Ekaterina II (ảnh dưới) năm 1769, cuộc đột kích lớn của kỵ binh Tatar đã bắt giữ 2 vạn nô lệ Nga. Mọi chuyện chỉ kết thúc khi nữ hoàng Ekaterina II tài ba gốc Đức tiêu diệt hoàn toàn Crimea Hãn quốc và sáp nhập Krym vào đế chế Nga ngày 19 tháng 4 năm 1783 trong các công trình phòng thủ mà những cộng đồng cư dân nông nghiệp xây dựng để chống lại các cuộc đột kích cướp bóc của dân du mục man rợ, nổi tiếng Vạn Lý Trường Thành dài 6000 km được các triều đại phong kiến Trung Quốc xây dựng để ngăn chặn kỵ binh du mục tấn công từ phương bắc. Thân vương quốc Mátcơva phong kiến cũng từng xây dựng một hệ thống phòng thủ dài hàng trăm km từ Bryansk đến Ryazan dọc theo sông Oka để chống lại dân du mục, nhưng là từ hướng nam. Việc xây dựng hoàn thành năm 1566 dưới thời Sa hoàng Ivan đệ tứ (ảnh dưới) Bức trường thành Nga
từ thế kỷ XVI, chính quyền Mátcơva dưới thời Ivan Bạo Chúa đã bắt đầu nỗ lực để xây dựng một hệ thống phòng thủ kéo dài hàng trăm km nhằm ngăn chặn các vụ đột kích của kỵ binh Tatars. Xây dựng cũng như duy trì các tuyến phòng thủ và quân đội dọc biên giới thảo nguyên rộng lớn, nơi gần như không có rào cản tự nhiên rất tốn kém và là gánh nặng nề cho nhà nước, đòi hỏi một phần đáng kể ngân sách quốc gia nhưng đây là khoản chi không thể tránh khỏi. Ngoài ra các Sa hoàng còn thu thêm một loại thuế để chuộc những người bị quân Tatars bắt cóc với giá từ 50-200 rúp tùy người các hàng rào phòng thủ trải dài hàng trăm km từ rừng Bryansk (ảnh dưới) đến Pereyaslavl-Ryazan và phần phía đông nam của nó trải dài từ Skopin đến Shatsk ba thập niên 1630-1650 phòng tuyến Belgorod được xây dựng chạy 300-400 km về phía nam của các tuyến phòng thủ trước đó. Phòng tuyến bao gồm các cấu trúc phức tạp như pháo đài lẫn các chướng ngại vật tự nhiên (đầm lầy, rừng, sông). Phòng tuyến dài 600 km, lên tới 800 km nếu bao gồm cả các khúc quanh uốn lượn theo địa hình năm 1679-1681 người Nga tiếp tục xây dựng phòng tuyến Izyumskaya với chiều dài 530 km (cách tuyến Belgorod 150-200 km về phía nam) và trong những năm 1680 ở Trung Volga là phòng tuyến Syzranskaya . Năm 1731-1733, phía nam của phòng tuyến Izyumsky, phòng tuyến Ukraine tiếp tục được thiết lập với tổng chiều dài là hơn 400 km bao gồm 16 pháo đài mới được xây dựng khi xây dựng các tuyến phòng thủ mới, hiệu quả của các cuộc tấn công từ dân du mục Tatars ở Crimea giảm xuống rõ rệt bởi vì chúng không thể xâm nhập sâu vào lãnh thổ. Phòng tuyến không thể cản quân Tatars âm thầm vượt qua trong đêm nhưng sẽ gây ra nhiều phiền phức khi chúng rút lui cùng với hàng đoàn nô lệ, từ đó cho phép những người bảo vệ có thêm thời gian để truy đuổi chúng, ngăn chúng rút lui an toàn cùng với chiến lợi phẩm. Kỵ binh Tatars sau này thường trở về từ các chiến dịch mà không có chiến lợi phẩm gì. Ngoài ra người Tatars không có đủ súng đã chịu tổn thất lớn trước các quân đội châu Âu và Nga với trang bị hiện đại hơn. Nước Nga dần dần đã quá mạnh để kỵ binh du mục có thể cướp bóc thời đại của các cuộc tấn công nô lệ lớn ở Nga và Ukraine đã dần đến hồi kết thúc, mặc dù những kẻ đột kích vẫn tiếp tục các cuộc tấn công của họ và sự thù hận của Nga đối với Crimea Hãn quốc không hề suy giảm theo thời gian nửa đầu thế kỷ XVII, người Kalmyk (ảnh trên) gốc Mông Cổ đã thành lập Kalmyk Hãn quốc ở phía Bắc dãy núi Kavkaz. Là những tín đồ Phật giáo Tây Tạng, dân Kalmyk là kẻ thù tự nhiên của Crimea Hãn quốc và người Ottoman theo Hồi giáo. Người Kalmyk là một đồng minh quan trọng của Đế quốc Nga và kỵ binh Kalmyk đã tham gia tích cực vào tất cả các chiến dịch của Nga trong thế kỷ XVII và XVIII, cung cấp hàng chục ngàn kỵ binh được trang bị đầy đủ Pyotr đại Đế cải tiến quân đội
trước thế kỷ XVIII, trong suốt hàng trăm năm nước Nga chỉ có một đạo quân lạc hậu, được huấn luyện kém cỏi và nghiệp dư theo kiểu tương tự các đạo quân châu Á để bảo vệ đường biên giới bao la của nó. Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Sa hoàng Pyotr (ảnh trên) cầm quyền đã quyết tâm hiện đại hóa nước Nga, nhất là về quân sự. Khi qua đời năm 1725 ông đã để lại một đội 20 vạn quân – bảy tiểu đoàn Cận vệ, năm mươi trung đoàn bộ binh và ba mươi trung đoàn kỵ binh. Ngoài một vài đơn vị khinh kỵ binh thì phần còn lại chủ yếu là quân đồn trú. Đến năm 1730, ba trung đoàn thiết kỵ binh đã được thành lập và mười bốn trung đoàn dân quân để bảo vệ các đường biên giới Ukraine chống lại dân du mục. Đến năm 1740, Sa hoàng Nga có 24 vạn quân dưới quyền, và năm 1750 là 27 vạn – không kể hơn 5 vạn quân không thường trực, chủ yếu là người Cossacks và Kalmyks. Mặc dù quân đội đã phát triển quy mô nhưng về cơ bản, nước Nga không thể huy động nhiều hơn 12 vạn quân mỗi chiến dịch vì binh lính phải chia ra trấn giữ lãnh thổ rộng lớn Nga thôn tính Krym Hãn Quốc
ngày 20 tháng 5 năm 1736, 62000 quân Nga dưới sự chỉ huy của nguyên soái Christoph von Münnich (ảnh trên) người Đức chiếm pháo đài tại eo đất Perekop nối đất liền tới bán đảo Crimea, và ngày 17 tháng 6 chiếm Bakhchysarai trong khi một đạo 28000 quân Nga dưới trướng Peter von Lacy (ảnh dưới) người Ailen cũng chiếm pháo đài của quân Ottoman ở Azov, mở được con đường thông ra biển Đen. Quân Tatars đã bao vây lực lượng xâm lược ngay khi nó vượt qua eo đất Perekop nhưng các trung đoàn Nga được huấn luyện kỹ lưỡng đã mau chóng hình thành thành đội hình ô vuông để bẻ gãy các đợt tấn công của kỵ binh du mục và hành quân thẳng đến thủ đô Bakhchysarai mặc dù thành công trên chiến trường nhưng sự bùng phát của dịch bệnh kết hợp với nguồn cung hậu cần không đủ khiến quân Nga phải rút lui. Một phần ba quân đội đã ngã bệnh và phần còn lại đã kiệt sức vì cái nóng. Năm 1737 quân Nga phá thành Ochakov (ảnh dưới) trên cửa sông Dnieper, chiếm tám mươi hai khẩu pháo bằng đồng. Tuy nhiên, gốc rễ của vấn đề, theo một sĩ quan có kinh nghiệm, không phải là kẻ thù. ‘giặc Thổ Nhĩ Kỳ và giặc Tatars là những gì [quân đội] ít sợ nhất; đói, khát, trừng phạt, mệt mỏi liên tục, những cuộc hành quân trong cái nóng mạnh nhất của mùa hè đã gây tử vong nhiều hơn’. Và sau đó bệnh dịch hạch bùng phát trong quân đội tại Ochakov năm 1738 và nhanh chóng lan sang Ukraine. Không có gì ngạc nhiên khi vào cuối chiến dịch mỗi trung đoàn đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, một số đến 50% chiến dịch Crimea đã kết thúc khi Nga rút về Ukraine với 3 vạn người thiệt mạng, chỉ 2000 người do các nguyên nhân liên quan đến chiến tranh và phần còn lại là do bệnh tật và nạn đói năm 1774 sau cuộc chiến tranh Nga thắng Thổ, người Thổ ký hiệp ước chấp nhận Crimea Hãn quốc trở thành một quốc gia độc lập khỏi Ottoman và Crimea chuyển sang thần phục Nga hoàng. Người Tatar ở Crimea không có mong muốn độc lập và giữ một tình cảm gắn bó mạnh mẽ với Đế chế Ottoman. Trong vòng hai tháng kể từ ngày ký hiệp ước, chính phủ của Hãn quốc đã phái sứ thần đến Ottoman, yêu cầu họ “hủy các điều kiện độc lập” tuy nhiên, Ottoman đã bỏ qua yêu cầu này vì không muốn vi phạm thỏa thuận với Nga tháng 4 năm 1783 nữ hoàng Ekaterina đệ nhị (ảnh trên) công bố sáp nhập Crimea trở thành một tỉnh thuộc đế quốc Nga với tên gọi là Taurida. Kể từ đây, các cuộc cướp bóc nô lệ của hãn quốc Krym chỉ còn là quá khứ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
















































