Phần 1: Thiết Mộc Chân
thế kỷ 13 châu Âu run sợ trước vó ngựa Mông Cổ dưới trướng Thành Cát Tư Hãn; thời điểm Thiết Mộc Chân chết, quân Mông Cổ đã lập nên một đế quốc rộng nhất lịch sử, đông đến Hoàng Hải, tây giáp Biển Đen, bắc tới Nga và nam đến Ấn Độ
nửa đầu thế kỷ 14 Mông Cổ không còn thường trực đe dọa châu Âu, trừ Nga; nhà Ottoman nổi lên mới làm đau đầu các vị quân chủ phương tây
năm 1402 sultan Bayezid đệ nhất (ảnh trên) nhà Ottoman thua trận Ankara và bản thân Bayezid 1 bị cầm tù chết trong ngục; các vị vua phương tây đã trầm trồ trước thế lực mới nổi ở Trung Á, được lãnh đạo bởi vua Timur Lang lừng danh, người hiếm hoi trong lịch sử chưa để thua một trận nào trong cuộc đời
I. Lý lịch
Tamerlane là cách gọi sai của người phương Tây, tên đúng của ông là Timur, ghép với hậu tố phía sau là Timur–i–lang nghĩa là Timur Què. Timur phiên âm sang tiếng Hán gọi là Thiếp Mộc Nhi. Sử sách ghi chép Timur sinh ngày 8 tháng 4 năm 1336 tại Transoxiana, ngày nay là Uzbekistan; mặc dù Timur tự nhận là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn nhưng theo phả hệ thì ông thuộc dòng dõi gần với dân Thổ Nhĩ Kỳ hơn là người Mông Cổ
Timur thuộc bộ tộc Ba Lỗ [Barlas] đã từng bước thăng tiến làm lãnh đạo bộ lạc thông qua những chiến công sau này; tuy nhiên nhiều nghiên cứu sinh đã cho rằng gia cảnh Timur không tầm thường, dù không phải trưởng tộc nhưng cha Taraghay là người giàu có và quyền lực trong bộ tộc. Thiếp Mộc Nhi được cha dạy chữ và các kinh điển Hồi giáo, Timur có thể thuộc lòng kinh Qur’an; năm 20 tuổi, một lần tranh chấp với các bộ lạc lân cận, Timur bị đâm vào đùi và bị tên bắn rụng 2 ngón tay phải, khiến chân Timur bị tật suốt đời
II. Thiết Mộc Chân tuyển chọn trữ quân
Thành Cát Tư Hãn còn sống: con trai trưởng Truật Xích [Jochi] luôn bị nghi ngờ về huyết thống và bị bài xích bởi người con thứ Sát Hợp Đài. Trước khi chết, Thiết Mộc Chân viết di chúc cho người con thứ 3 Oa Khoát Đài được thừa kế ngôi vị Đại Hãn. Truật Xích (ảnh dưới) chết sớm, đất đai của Truật Xích được chia cho hai con trai của Xích là Oát Nhi Đáp (Orda) và Bạt Đô (Batu). Oát Nhi Đáp lãnh phần phía tây, tương ứng Đông Âu ngày nay, gọi là Bạch Trướng Hãn Quốc; Bạt Đô lãnh phần phía đông tương ứng miền tây nam nước Nga ngày nay, gọi là Thanh Trướng Hãn Quốc
trắng pha với xanh thì thành vàng, người Nga gọi tất cả lãnh thổ mà người Mông Cổ chiếm cứ của mình bằng cái tên Kim Trướng Hãn Quốc, còn gọi là Khâm Sát Hãn Quốc [Kipchak khanate] hoặc Ulus của Truật Xích - ulus tiếng Thổ nghĩa là bất động sản; Kim Trướng là Lều Lớn Bạt Vàng vì truyền thống Mông Cổ ở trong lều bạt, và chỉ có lều của khả hãn mới mang màu vàng; người Nga phải đóng thuế cho Kim Trướng Hãn Quốc và nhờ họ bảo kê để chống lại các cuộc cướp phá từ phía Tây
năm 1241 Oa Khoát Đài qua đời, hoàng hậu Bột Lạp Cáp Chân (Töregene Khatun) đứng ra nhiếp chính. Đại Hãn mới sẽ được bầu ra trong đại hội Khố Lý Đài [Kurultai] của các quý tộc, nhưng hoàng hậu Bột Lạp Cáp Chân (ảnh dưới) đề nghị các tướng lĩnh lập con trai bà Quý Do lên làm Đại Hãn luôn mà không qua bầu cử. Nhiều tướng lĩnh, quý tộc phản đối nên hội nghị tan vỡ. Bạt Đô bỏ ngang không tham gia đại hội, còn Thiết Mộc Ca (Temüge) – em trai Thành Cát Tư Hãn – hợp quân để tranh ngôi vị; Sát Hợp Đài, con thứ của Thành Cát Tư Hãn, lại ủng hộ Quý Do
năm 1242-1246 hoàng hậu Töregene nhiếp chính, pháp kỉ hỗn loạn, các quý tộc Mông Cổ đánh giết lẫn nhau; vợ góa của Đà Lôi là Sorghaghtani dẫn các con tham gia đại hội Khố Lý Đài, cùng với các quý tộc Mông Cổ, tôn Quý Do (ảnh dưới) lên ngôi, được sự ủng hộ của 2 trong số 4 nhánh hậu duệ chính thức của Thành Cát Tư Hãn
tháng 8 năm 1246 Quý Do lên ngôi Đại Hãn nhưng mâu thuẫn âm ỷ trong nội bộ hoàng tộc Mông Cổ vẫn chưa hết; Bạt Đô (ảnh dưới) tiếp tục bất đồng với Quý Do, thậm chí hai ông này định mang quân để “nói chuyện phải quấy” với nhau, nhưng ngay lúc căng thẳng thì Quý Do ốm chết, đến lượt hoàng hậu của Quý Do đã học theo gương mẹ chồng và tính đường nhiếp chính; Bạt Đô trở về thảo nguyên, mang theo một đạo quân đông đảo, khi tất cả nín thở đinh ninh Bạt Đô sẽ giành ngôi Đại Hãn thì Bạt Đô tiến cử con trai của Đà Lôi (con út của Thiết Mộc Chân) là Mông Kha
Mông Kha (ảnh dưới) tử trận, người Mông Cổ lại nội chiến cho đến khi Hốt Tất Liệt - em trai Mông Kha - đánh bại hết và sau đó diệt được nhà Tống, lập ra nhà Nguyên
Sát Hợp Đài Hãn Quốc là phần đất cùa Sát Hợp Đài (ảnh dưới) con trai thứ của Thiết Mộc Chân, gần như là hầu hết đất đai của Hoa Thích Tử Mô (đế quốc Khwarezm cũ), bao gồm hầu hết Trung Á và một phần Tân Cương ngày nay; Sát Hợp Đài chết, Sát Hợp Đài Hãn Quốc được cháu trai là A Lỗ Hốt [Alghu] thừa kế
năm 1259 Mông Kha chết, A Lý Bất Ca (ảnh dưới) và Hốt Tất Liệt đang tranh nhau ngôi Đại Hãn; A Lỗ Hốt ủng hộ A Lý Bất Ca, khi thấy A Lý Bất Ca rơi vào thế bất lợi thì A Lỗ Hốt đã quay xe, nhưng Hốt Tất Liệt đã “ghi nhớ” hành động này của A Lỗ Hốt
năm 1266 A Lỗ Hốt chết, con là Bát Lạt [Baraq] nối ngôi; Hốt Tất Liệt (ảnh dưới) phái một đoàn giám sát đến ăn ở ngay trong triều đình Sát Hợp Đài; sau đó Bát Lạt nổi đóa và tống cổ hết đám sứ bộ của Hốt Tất Liệt, ngay lập tức Hốt Tất Liện phái Hải Đô [Kaidu là cháu nội Oa Khoát Đài] mang quân sang phía tây đánh Bát Lạt
Bát Lạt thua trận và bị giam tại Transoxiana, sau đó xin thần phục và trở thành chư hầu của Hải Đô; sau này Bát Lạt tấn công A Bát Cáp (Abaqa ảnh dưới) của Y Nhi Hãn Quốc tại Ba Tư, nhưng bị quân Y Nhi Hãn Quốc đánh bại và phải chạy về Transoxiana. Bát Lạt mất không lâu sau đó, một vài Hãn của dòng dõi Sát Hợp Đài đã được Hải Đô lập lên làm bù nhìn
năm 1270 Hốt Tất Liệt nhiều lần xúi Y Nhi Hãn Quốc mở các đợt tấn công vào lãnh địa của Hải Đô, đỉnh điểm năm 1275 Hải Đô dẫn quân xâm chiếm Tây Tạng thì Hốt Tất Liệt mang quân cứu Tây Tạng, buộc Hải Đô lui quân
Hải Đô lập Đô Oa [Duwa] con trai của Bát Lạt làm Hãn của Sát Hợp Đài, người này đã tham gia vào các cuộc chiến của Hải Đô đánh Hốt Tất Liệt và các hậu duệ cai trị nhà Nguyên; cả Hải Đô và Đô Oa đều tích cực chống lại Y Nhi Hãn Quốc
năm 1301 Thiết Mộc Nhĩ là cháu thừa kế của Hốt Tất Liệt đã đánh bại cuộc tiến công của Hải Đô và Đô Oa vào Cáp Lạt Hòa Lâm; sau đó Hải Đô mất, Đô Oa xin hàng và nộp triều cống cho Nguyên Thành Tông [Thiết Mộc Nhĩ ảnh dưới]
năm 1304 Đô Oa của Sát Hợp Đài Hãn Quốc, con trai của Hải Đô là Chapar, Thốc Tác của Kim Trướng Hãn Quốc và Hoàn Giả Đô (ảnh dưới) của Y Nhi Hãn Quốc đã đồng lòng dâng thư xin Nguyên Thành Tông dẹp bỏ các mâu thuẫn trước đây, cùng hòa hảo và duy trì các mối quan hệ thương mại và ngoại giao, chấp nhận Nguyên Thành Tông là hoàng đế tối cao; Thiết Mộc Nhĩ trả lời: “các hậu duệ của Thiết Mộc Chân luôn luôn là huynh đệ của nhau”
III. Các hãn quốc
đặc điểm văn hóa của người Mông Cổ là dễ dàng bị đồng hóa bởi các dân tộc bản địa họ chinh phục: nhà Nguyên ở Trung Quốc bị Hán Hóa, Y Nhi Hãn Quốc bị Hồi giáo hóa, và Sát Hợp Đài Hãn Quốc bị Thổ Nhĩ Kỳ hóa
80 năm sau khi người Mông Cổ xây dựng lên đế chế khổng lồ của họ, các hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn đã tan rã: có Hãn cải sang Hồi giáo, có Hãn thì gương mặt nhìn trước nhìn sau giống người Thổ hơn là người Mông, có Hãn lại có trong tay gần 10 vạn quân nhưng lại toàn là người Trung Á
sức mạnh Mông Cổ suy yếu đã tạo thời cơ các bộ tộc bản địa nổi lên, dù không tuyên bố ra mặt nhưng đã rũ bỏ dần thế lực của các Hãn Quốc [Khanate]; năm 1346 Hợp Tán của Sát Hợp Đài Hãn Quốc bị tù trưởng Qazaghan bộ lạc Mông Cổ định cư ở Afghanistan [Qara'unas ảnh dưới] nổi dậy và giết chết, quyền quản lý Sát Hợp Đài Hãn Quốc đã rơi vào tay các bộ lạc Thổ và Thổ lai Mông Cổ bản xứ; vẫn duy trì một thành viên là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn làm khả hãn, song, ngai vàng chỉ là bù nhìn
năm 1358 tù trưởng Qazaghan bị ám sát, miền tây Sát Hợp Đài Hãn Quốc bị xâu xé; bấy giờ, từ phía đông ở Tân Cương, hậu duệ Thốc Hốt Lỗ Thiếp Mộc Nhi (Tughlugh ảnh dưới) của nhánh Sát Hợp Đài đã đánh sang phía tây; các thủ lĩnh người Thổ phía tây đã cử tộc trưởng Thiếp Mộc Nhi [Timur] của bộ tộc Ba Lỗ [Barlas] đi đàm phán với Thốc Hốt Lỗ nhưng Timur … kết đồng minh luôn với Thốc Hốt Lỗ và dẫn quân về đánh địch thủ
kinh nghiệm chinh chiến, quân Timur lớn mạnh, đến khi Thốc Hốt Lỗ cảm thấy sự đe dọa từ Thiếp Mộc Nhi (ảnh dưới) thì đã muộn; chính Thiếp Mộc Nhi hai lần chặn nỗ lực tây chinh của Thốc Hốt Lỗ
năm 1363 Thốc Hốt Lỗ chết (ảnh dưới: lăng mộ) Transoxiana phía tây của Sát Hợp Đài Hãn Quốc đã rơi vào tranh chấp giữa hai thủ lĩnh bộ lạc là Husayn (cháu nội của Qazaghan) và Thiếp Mộc Nhi; xét họ hàng thì Husayn là anh rể của Thiếp Mộc Nhi, nhưng Thiếp Mộc Nhi được hậu thuẫn của các thương gia, giáo sĩ Hồi giáo, giai cấp quý tộc và nông dân; Husayn mất lòng dân vì thi hành chính sách thuế khoá nặng nề và phung phí tiền thuế để xây dựng các công trình phù phiếm
năm 1370 Husayn đầu hàng Thiếp Mộc Nhi và bị ám sát, Timur chính thức thống trị Transoxiana; Thiếp Mộc Nhi cưới Saray Mulk Khanum, là một vợ của Husayn và cũng là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, đã đưa Thiếp Mộc Nhi trở thành quý tộc; sau đó, một bộ phận người Mông Cổ chạy về phía đông bắc lập ra Đông Sát Hợp Đài Hãn Quốc (ảnh dưới: Mughalistan) và thường xuyên giao chiến với vương triều Timur
giữa thế kỷ 14 ở Kim Trướng Hãn Quốc phía bắc châu Á, đại dịch Cái Chết Đen xảy ra; ảnh hưởng giao thương, các bộ tộc Nga không kham nổi tiền thuế cống nạp hằng năm và đã chống lại quân Mông Cổ
năm 1380 trận Kulikovo là lần đầu tiên người Nga đánh thắng quân Bạch Trướng Hãn Quốc, mặc dù quân số Mông Cổ đông gấp đôi; đây là trận đánh đầu tiên quân Nga có sử dụng súng
năm 1370 – 1380 Thoát Thoát Mê Thất [Tokhtamysh] dòng dõi Truật Xích đã không phục tùng khả hãn Urus của Thanh Trướng Hãn Quốc vì thù giết cha, bất chấp Urus ba lần dung thứ nhưng Thoát Thoát Mê Thất vẫn chiến tới cùng; bị đánh cho còn cái lai quần, Thoát Thoát Mê Thất chạy đến nương tựa Timur; Thiếp Mộc Nhi đã tra gia phả và biết Thoát Thoát Mê Thất là hậu duệ con trưởng của Thiết Mộc Chân nên đã ra sức cưu mang, giúp đỡ
năm 1377 hãn Urus (ảnh dưới) chết già, con trai nối ngôi cũng chết không lâu sau, Thiếp Mộc Nhi giúp cho Thoát Thoát Mê Thất một đội quân lớn và đưa về làm vua Thanh Trướng Hãn Quốc
năm 1379 Thoát Thoát Mê Thất đả bại người con thứ hai của Urus, chiếm thủ đô Sarai (ảnh dưới) của Kim Trướng Hãn Quốc
năm 1380 tin tức trận Kulikovo báo về, Thoát Thoát Mê Thất xua quân vượt sông Volga thanh toán nốt tàn quân của Bạch Trướng Hãn Quốc; tướng Mã Mạch (Mamai) vừa thất bại nặng nề trước người Nga đã không thể chống lại Thoát Thoát Mê Thất và phải bỏ chạy đến tận Crimea thì bị giết
năm 1382 Thoát Thoát Mê Thất đem quân tấn công các công quốc [Principality] là Novgorod, Moscow và Vladimir để trả mối hận ở trận Kulikovo; các công quốc Nga đã xin hàng và nộp triều cống cho Thoát Thoát Mê Thất giống như trước kia với Bạch Trướng Hãn Quốc
phía nam, được thành lập muộn hơn Kim Trướng Hán Quốc và Sát Hợp Đài Hãn Quốc, Y Nhi Hãn Quốc là “phần thưởng” của Hốt Tất Liệt dành cho em kế Húc Liệt Ngột (ảnh dưới) vì đã sát cánh cùng ông trong cuộc nội chiến giành ghế Đại Hãn với người em út A Lý Bất Ca (Ariq Boke); Y Nhi Hãn Quốc bao trùm gần hết Tây Á trải dài trên lãnh thổ các nước Pakistan, Afghanistan, Iran, Iraq, Syria và một phần Tân Cương ngày nay
thời Húc Liệt Ngột, cả Bạch Trướng Hãn Quốc tới Sát Hợp Đài Hãn Quốc đều có vài lần giao chiến với Y Nhi Hãn Quốc; Biệt Nhi Ca (ảnh dưới) của Kim Trướng Hãn Quốc năm xưa từng cùng với Húc Liệt Ngột đi đánh nhà Mamluk ở Ai Cập, nhưng nửa chừng thì được tin Mông Kha qua đời, Húc đã quay về thảo nguyên, giao quân lại cho ái tướng Khiếp Đích Bất Hoa
Khiếp Đích Bất Hoa theo Cảnh Giáo (Chính thống giáo Đông phương) trong khi Biệt Nhi Ca theo Hồi giáo, Biệt Nhi Ca vẫn cay Húc Liệt Ngột vì đã tàn phá thủ phủ Bagdad của Hồi giáo và giết chết khả hãn [khalip] al-Musta’sim (ảnh dưới) của đế quốc Abbasid
Biệt Nhi Ca rút quân về châu Âu ngay trước trận Ain Jalut (ảnh dưới) hậu quả là quân Khiếp Đích Bất Hoa bị diệt, và người Mông Cổ sau đó đã không bao giờ tiến xa hơn vào Ai Cập
thù hận, Húc Liệt Ngột thường xuyên mang quân đánh nhau với Bạch Trướng Hãn Quốc; sau Húc Liệt Ngột, các khả hãn của Y Nhi Hãn Quốc đã thường theo Phật giáo Tây Tạng, dù người dân Y Nhĩ Hãn Quốc hầu hết theo Hồi giáo và số lớn dân theo Chính thống giáo Đông phương
năm 1295 Hợp Tán (ảnh trên) cháu nội của A Bát Cáp và là chắt của Húc Liệt Ngột, đã lật đổ Bái Đô (Baydu); trước đó Bái Đô đã cải sang Hồi giáo, chính quyền đã thiên vị Hồi giáo trong các nỗ lực đưa vương triều Y Nhĩ Hãn Quốc xích lại gần hơn với đa số cư dân, những người không phải là dân Mông Cổ
Chính thống giáo Đông phương và Do Thái giáo đã phải trả thuế để duy trì đức tin, trong khi những người theo Phật giáo đã phải lựa chọn cải đạo hoặc bị trục xuất
năm 1303 ái phi Karamun qua đời, tháng 3 Hợp Tán đau buồn đã xuống chiếu lựa chọn trữ quân là em ruột Hoàn Giả Đô (Oljaitu ảnh dưới) vì Hợp Tán không có con trai nối dõi
ngày 17 tháng 5 năm 1304 Hợp Tán mất, Hoàn Giả Đô nối ngôi đến năm 1315 thì con trai Hoàn Giả Đô là Bất Tái Nhân [Abu Sa’id] lên nối ngôi và đã đối mặt với sự xâm chiếm liên tục từ Kim Trướng Hãn Quốc cũng như sự nổi loạn của các tù trưởng người Thổ bản xứ
năm 1335 khả hãn Hoàn Bặc (Oberk) của Kim Trướng Hãn Quốc mang quân xâm lược Y Nhi Hãn Quốc, Bất Tái Nhân (ảnh trên) trên đường hành quân ra trận đã lâm bệnh qua đời; người ta cho rằng Bất Tái Nhân bị bệnh dịch hạch Cái Chết Đen
không ai kế thừa, các gia tộc lớn ở Y Nhi Hãn Quốc và các tù trưởng địa phương đã nổi lên; suốt nửa thế kỷ, một khoảng trống quyền lực đã tồn tại ở Ba Tư, nhưng các đế quốc láng giềng là Sát Hợp Đài Hãn Quốc và Kim Trướng Hãn Quốc đều có những vấn đề nội bộ và chưa ai bận tâm dòm ngó Y Nhi Hãn Quốc
thập niên 1380 Thiếp Mộc Nhi [Timur] dẫn quân Sát Hợp Đài Hãn Quốc và Thoát Thoát Mê Thất [Tokhtamysh] dẫn quân Kim Trướng Hãn Quốc đã bắt đầu mang quân cướp phá Y Nhi Hãn Quốc
năm 1383 Timur (ảnh dưới: đi săn) bắt đầu chinh phục Y Nhi Hãn Quốc và năm 1385 chiếm Herat, Khorasan và toàn bộ miền đông Ba Tư
năm 1385 Tokhtamysh đánh phá Azerbaijan và tây bắc Iran, năm 1386 Tokhtamysh đánh vào thành phố Tabriz và thu nhiều chiến lợi phẩm
Phần 2: Chiến tranh với Kim Trướng Hãn Quốc
năm xưa Thiết Mộc Chân và Trác Mộc Hợp cùng kết nghĩa An Đáp [anda] cùng giúp nhau xây dựng cơ đồ; rồi Trác Mộc Hợp ba lần mang quân đánh Thiết Mộc Chân để giành quyền làm chủ thảo nguyên, cuối cùng chết dưới tay người huynh đệ kết nghĩa; 200 năm sau, những hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn đã diễn lại tấn tuồng này, là ba lần chiến tranh giữa Thiếp Mộc Nhi [Timur] và Thoát Thoát Mê Thất [Tokhtamysh]
I. Thoát Thoát Mê Thất tấn công
năm 1335 Bất Tái Nhân đột ngột mất mà chưa có con trai nối dõi, tể tướng của Bất Tái Nhân đã tiến cử Dã Xưng Vi (Arba Ke’un) kế vị khả hãn, nhưng Dã Xưng Vi không nhiệt tình mấy với Hồi giáo; các quan lại và tù trưởng người Ba Tư, người Thổ và người Mông Cổ đều không chịu phục tùng Hãn mới; nội loạn nổ ra, chia cắt lãnh thổ Y Nhi Hãn Quốc ra sáu tiểu quốc Chobanids, Injuids, Jalayirids, Kartids, Sardabars và Muzzaffarids
năm 1381 Sardabars bị Timur tấn công và đã đầu hàng, Thiếp Mộc Nhi chiếm được thành phố Khorasan (ảnh dưới) trù phú
năm 1383 Timur bắt đầu chinh phục Ba Tư, tiến vào thủ đô Herat (ảnh dưới) triều đại Kartid; Herat không đầu hàng, quân Thiếp Mộc Nhi phá thành phố Herat thành đống đổ nát và tàn sát hầu hết dân trong thành; Herat đã là một bãi tha ma tới tận 30 năm sau
Timur tiến về phía tây để đánh chiếm dãy núi Zagros, đi qua Mazandaran; trong chuyến viễn chinh qua phía bắc Ba Tư, Thiếp Mộc Nhi đã chiếm được thị trấn Mazandaran; thị trấn đã chủ trương đầu hàng và được đối xử nhân từ
năm 1384 Timur bao vây Soltaniyeh (ảnh dưới); năm 1385 thành Khorasan nổi dậy chống lại Timur, Thiếp Mộc Nhi đã dẫn quân quay lại và tàn phá thành phố này, những kẻ chủ mưu bị Timur cho treo lên tường thành và thiêu sống tại đó “để cho bất cứ người dân Khorasan nào cũng nhìn thấy được hậu quả”. Đến lúc này Timur đã làm chủ được miền đông Ba Tư
năm 1385 Thoát Thoát Mê Thất (ảnh dưới) đánh phá Azerbaijan, quân Kim Trướng tiến vào cướp phá thành phố Tabriz đã mang đi lượng lớn chiến lợi phẩm cũng như nô lệ và chuẩn bị tiến quân vào tây bắc Ba Tư
Thiếp Mộc Nhi gửi tin cho Thoát Thoát Mê Thất đề nghị quân Kim Trướng hãy dừng lại, nhưng không có hồi âm; năm 1386 Timur xua quân vào Azerbaijan, mùa đông năm 1386 quân Timur dừng lại trú đông ở Karabakh; quân Kim Trướng xuất hiện và tấn công vào tiền đội của quân Timur, bị đánh bất ngờ nhưng quân Thiếp Mộc Nhi vẫn chống đỡ chứ không hoảng loạn; 40 chỉ huy trong đội tiên phong của Timur đã tử trận, trước khi Miran Shah con trai Timur đã mang quân đến giải vây; Miran truy đuổi quân Kim Trướng chạy ngược trở về biên giới, bắt giữ một số chỉ huy của địch và áp giải về gặp Timur; Thiếp Mộc Nhi cho đối đãi ân cần với các tù nhân này, cho ăn no mặc ấm và cho người hộ tống trở về Kim Trướng
năm 1388 nhận thấy Thiếp Mộc Nhi đang đóng quân ở Azerbajian, Thoát Thoát Mê Thất đánh úp từ phía đông; quân Kim Trướng chia hai cánh, một tiến vào Sawran (ảnh dưới) một tiến vào Bukhara, hai cánh quân sẽ hợp binh tại Samarkand, thủ đô của đế quốc Timurid
các thành phố của Timurid đã kiên cố hơn dự tính của quân Kim Trướng, tổ chức phòng ngự chặt chẽ và bài bản, có sự phối hợp giữa các thành phố nên tốc độ tiến quân của Kim Trướng đã bị chững lại
mùa xuân năm 1388 Timur dẫn đại quân phía tây quay về đến Samarkand (ảnh dưới), Thoát Thoát Mê Thất thấy khó đã cho quân đội triệt thoái gấp về phía bắc
năm 1399 quân Kim Trướng lại đột kích vào Sawran, cướp phá thành phố; trả thù, Timur tiến quân vào Khwarazm (ảnh dưới) lật đổ nhà Sufi vì tội thông đồng với quân xâm lược
ba lần bị Kim Trướng Hãn Quốc quấy rối đã khiến Timur phải xem xét khả năng đánh phủ đầu Kim Trướng Hãn Quốc và phế truất Thoát Thoát Mê Thất để giải trừ hậu họa; Thoát Thoát Mê Thất liên tục tìm kiếm trợ giúp và kết đồng minh với các kẻ thù cũ của Thiếp Mộc Nhi như nhà Jalayirid và thậm chí cả nhà Mamluk ở Ai Cập
II. Trận sông Kondurcha
tháng 2 năm 1391 Timur dẫn quân tiến vào Kim Trướng Hãn Quốc từ phía Tashkent (ảnh dưới)
Thoát Thoát Mê Thất [Tokhtamysh] tập hợp đại quân nhưng tránh giao chiến trực tiếp, quân Kim Trướng liên tục rút lui về hướng bắc, mục tiêu là kéo giãn đội hình của Timur và buộc Thiếp Mộc Chân phải đi xa khỏi tuyến hậu cần
suốt bốn tháng, quân Timur truy đuổi quân Kim Trướng xa dần về phía tây; Timur cũng dần phát hiện rằng Tokhtamysh đang muốn đưa quân Kim Trướng lui về phía tây, băng qua dãy Ural rồi từ đó men theo đường biển để hội quân với các Hãn Quốc từ Crimea, Bolghar (ảnh dưới) và các công quốc Nga
Thiếp Mộc Nhi quyết định đưa quân ngoặt lên phía bắc, vượt qua sông Ural và tiếp tục đi về phía thượng nguồn; với cách di chuyển này, quân Kim Trướng bị phơi sườn ra trước quân Timur; quân Kim Trướng nếu tiếp tục rút về phía tây sẽ có nguy cơ bị đánh tạt sườn,
nên Tokhtamysh xoay quân về hướng bắc đối trận với Timur
ngày 18 tháng 6 năm 1391 quân đội hai bên gặp nhau bên bờ sông Kondurcha, quân Kim Trướng đánh vào hai cánh tả hữu của quân Timurid; quân Timur đứng vững, sau khi cầm chân được hai cánh, trung quân của Thiếp Mộc Nhi xuất kích đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy của quân Kim Trướng
cục diện dần quay sang hướng bất lợi cho Tokhtamysh, Thoát Thoát Mê Thất và các tướng dưới quyền đã bỏ chạy khỏi chiến trường; quân Timurid tràn lên tàn sát tàn quân Kim Trướng, tương truyền rằng Thiếp Mộc Nhi đã cho quân Timur ăn mừng chiến thắng suốt hơn một tháng bên bờ sông Kondurcha
rút quân về Trung Á, Timur cho lập Thiếp Mộc Nhi Hốt Cách Lỗ Đặc [Timur Qutluq] làm hãn của Kim Trướng Hãn Quốc; Timur cài cắm thân tín Giả Địch Cổ [Edigu] làm nhiếp chính cho Hốt Cách Lỗ Đặc (ảnh dưới)
sau khi Thiếp Mộc Nhi và quân Timur rút đi, Tokhtamysh nằm im chờ thời một thời gian rồi mới bắt đầu ngóc đầu dậy; bấy giờ Thiếp Mộc Nhi Hốt Cách Lỗ Đặc và Giả Địch Cổ đang lo củng cố quyền lực ở phía đông, phía tây Kim Trướng Hãn Quốc bắt đầu ngả theo phía Tokhtamysh khá nhiều; Thoát Thoát Mê Thất tiếp tục được sự trợ giúp của nhà Mamluk ở Ai Cập, sultan Bayezid I của Ottoman và vua Gruzia Giorgi VII (ảnh dưới)
“dằn mặt” vua Giogri VII, Timur đã xâm lược chớp nhoáng vào Gruzia; riêng trong thời gian trị vì của Giogri VII, Timur đã 7 lần phát động chiến tranh với Gruzia
III. Trận sông Terek
tháng 3 năm 1395 Timur lại tiến đánh Kim Trướng Hãn Quốc, lần này từ phía tây, xuất phát từ Derbent (ảnh dưới); sau khi vượt qua dãy núi Kavkaz, quân Thiếp Mộc Nhi chạm trán đội tiên phong của Tokhtamysh; Timur sớm đả bại đội quân này và tiếp tục tiến lên
ngày 15 tháng 4 năm 1395 đại quân hai bên đối mặt bên bờ sông Terek nằm ở cộng hòa Daghestan ngày nay thuộc Nga
giống như trận chiến 4 năm trước, Thoát Thoát Mê Thất xua quân tiến lên trước; bản thân Timur xém nữa bị bắt làm tù binh, sau hai ngày chiến sự giằng co thì quân Timur cũng giành chiến thắng
Tokhtamysh chạy về phía bắc đến Bolghar và sau đó có lẽ tới Moldavia (ảnh dưới) Timur chia một phần lực lượng đuổi theo, bắt kịp tàn quân của Tokhtamysh và dồn quân Kim Trướng vào đồng bằng sông Volga rồi thực hiện cuộc tàn sát
Hốt Cách Lỗ Đặc [Timur Qutluq] và Giả Địch Cổ [Edigu] dẫn bộ binh tiến vào từ phía đông và giũ sổ bằng sạch những tiểu Hãn Quốc còn trung thành với Tokhtamysh; quân Timur đã truy kích Tokhtamysh lên tận Yones ở phía bắc, sau đó quay lại và tàn phá các thành phố của Kim Trướng Hãn Quốc
Giáo hội Chính thống giáo Nga đã ghi chép rằng: khi đến biên giới của công quốc Ryazan, quân Timur đã chiếm Yelets và bắt đầu tiến về phía Moskva; hoàng tử Vasili I (ảnh trên) dẫn quân đến Kolomna và dừng lại bên bờ sông Oka, nhưng quân Nga quá bé nhỏ trước đạo quân khổng lồ của Thiếp Mộc Nhi; các giáo sĩ đã mang biểu tượng Đức Mẹ Vladimir đến Moskva để ban phước cho các chiến binh trong đoàn quân
dọc đường, nhân dân đã xếp hàng quỳ gối cầu nguyện: “Lạy Mẹ Thiên Chúa, xin cứu lấy nước Nga!”. Đột nhiên, quân Thiếp Mộc Nhi bỏ dở cuộc hành quân và rút lui. Từ đó về sau, ngày 26 tháng 8 được người Nga lấy làm lễ kỷ niệm toàn Nga
nguyên nhân thực sự của cuộc lui binh này có lẽ vì quân Timur đã cướp bóc quá đầy đủ và bắt được nhiều nô lệ đến nỗi không thể mang thêm được nữa; tương truyền năm 1396 Thiếp Mộc Nhi khởi hành trở về Derbent, nô lệ đi theo đoàn quân này đông như những đàn cừu
IV. Trận sông Vorskla
năm 1399 sống dai như đỉa và khả năng … xoay chuyển tình thế, Thoát Thoát Mê Thất [Tokhtamysh] kêu gọi được những đồng minh Lithuania, Kiev, Polostk, Smolensk, Moldavia và Ba Lan… cùng nhiều lính đánh thuê gốc Nga, Đức… quân số chỉ 3 vạn, chủ yếu là quân Lithuania của công tước Vytautas (ảnh dưới); quân của Thoát Thoát Mê Thất có khoảng 8000 hầu hết là người Tatar từ hãn quốc Crimea
5 năm sau trận sông Terek, quân đội phía đông Kim Trướng Hãn Quốc của Giả Địch Cổ [Edigu] và Hốt Cách Lỗ Đặc [Timur Qutluq] chỉ huy đã rất hùng mạnh; Giả Địch Cổ huy động lực lượng đông gấp 3 lần quân của Thoát Thoát Mê Thất
tháng 8 năm 1399 quân hai bên gặp nhau trên bờ sông Vorskla vùng Đông Bắc Ukraine ngày nay; quân của Thiếp Mộc Nhi Hốt Cách Lỗ Đặc xuất hiện trước, lúc này quân số hai bên ngang nhau; cánh quân của Giả Địch Cổ đông gấp đôi vẫn đang ở phía sau và đang trên đường đến chiến trường
Thiếp Mộc Nhi Hốt Cách Lỗ Đặc dùng một kế cổ điển là giả vờ khiếp sợ trước sức mạnh của quân Lithuania và xin đàm phán với Đại công tước Vytautas để xin hàng, nhưng mục đích là câu giờ; Thoát Thoát Mê Thất đoán biết có sự gian trá và thúc giục đánh nhanh khỏi cần đàm phán gì sất, nhưng Vytautas đã mờ mắt tham lam những điều kiện mà Thiếp Mộc Nhi Hốt Cách Lỗ Đặc đưa ra; Vytautas (ảnh dưới) đồng ý đợi 3 ngày để quân Kim Trướng … hội ý cho xong
3 ngày sau, quân Giả Địch Cổ đã dư thời gian để đến chiến trường; Giả Địch Cổ ém quân trong những cánh rừng bên sông, và lúc này người Mông Cổ … lật kèo; Vytautas quê độ nên thúc quân đánh gấp để trả thù, khi trận đánh đang vào lúc ác liệt nhất, quân Kim Trướng bất ngờ … rút lui; quân Lithuania thừa thắng xông lên truy đuổi, đến chỗ mai phục thì quân Kim Trướng đổ ra chia cắt đội hình và vây chặt người Lithuania vào giữa
quân số Kim Trướng đông gấp 3, gần một nửa quân số Lithuania bị tiêu diệt tại trận, hơn 20 chỉ huy bao gồm các Vương công [prince] của các công quốc Kiev, Polotsk, Bryansk, Smolensk, Krakow… đã hy sinh; duy nhất thoát chết là Đại công tước Vitautas cũng bị thương nặng, chỉ còn có nửa cái mạng; chỉ Thoát Thoát Mê Thất lành lặn vì đã quá hiểu cái trò này của người Mông Cổ nên không dại gì mà đuổi theo
chiến thắng trên sông Vorskla, quân Kim Trướng ruổi ngựa thẳng một mạch đến tận Kiev để trừng phạt người Lithuania; các vương công ở đây đã chi ra số tiền chuộc khổng lồ (khoảng 3000 khối bạc hryvnia của Lithuania) thì quân Kim Trướng mới tha cho Kiev và rút lui
từ thế kỷ 15 trận Vorskla được coi là quyết định lịch sử Đông Âu. Đại công quốc Lithuania từ đó suy yếu, dù chưa đến mức sụp đổ thì cũng không đủ sức gây ảnh hưởng lên khắp các công quốc Nga như trước
Kim Trướng Hãn Quốc vốn dĩ đã suy yếu từ khi bị nhà Timur chi phối, dù thắng trận này nhưng sức mạnh trước kia cũng không còn; nên lịch sử Đông Âu sau thế kỷ 15 sẽ chứng kiến sự mạnh lên của Ba Lan và Nga, lợi dụng sự suy yếu của Lithuania và Mông Cổ để vươn lên giành ảnh hưởng các công quốc
Thoát Thoát Mê Thất (ảnh dưới) chạy thoát trận thua Vorskla, lần này chọn chạy về phía đông, sang tới Siberia
sau đó Thoát Thoát Mê Thất [Tokhtamysh] cũng nhận được ủng hộ từ các hãn quốc nhỏ ở Siberia, đồng ý giúp quân cho Thoát Thoát Mê Thất quay về đánh Giả Địch Cổ tận … 16 lần trong vòng 5 năm
năm 1406 một năm sau khi Timur qua đời, Giả Địch Cổ bày kế giả chết, cho quân lính phát tang để nhử Tokhtamysh vào bẫy; Thoát Thoát Mê Thất mang quân đến và bị một cơn mưa giáo mác, cung tên và đá từ bốn phía trút vào
từ sau năm 1399 Thoát Thoát Mê Thất đã không còn cơ hội gặp mặt Timur trên chiến trường thêm lần nào nữa; sau 2 trận chiến với Tokhtamysh, phía bắc đã tạm yên và Timur nhòm ngó sang phía tây của sultan Bayezid 1 nhà Ottoman.
Phần 3: từ Tây sang Đông
I. Cướp phá Delhi
tiếp theo Timur có hai lựa chọn: đánh Ấn Độ hoặc Trung Quốc? – ban đầu định đánh Trung Hoa, tương truyền rằng Thiếp Mộc Nhi quyết đánh Ấn Độ sau khi đọc một đoạn kinh Qu’ran và xem đó là một lời tiên tri; Timur lấy lý do rằng những lãnh chúa Hồi giáo ở Ấn Độ bấy giờ quá khoan dung với dân theo Hindu giáo bản địa của người Ấn, mà cụ thể là sultan Nasiruddin Mahmud của thành Dehli
năm 1398 Timur xua quân tiến đánh Ấn Độ từ phía bắc và ngày 30 tháng 9 quân Thiếp Mộc Nhi vượt sông Indus (sông Ấn) cướp phá thành phố Tulamba bên bờ sông và làm cỏ dân chúng trong thành
tháng 10 quân Timur chiếm được thành Multan (ảnh dưới) do phía bắc Ấn Độ phần lớn đã cải theo Hồi Giáo nên khi quân Thiếp Mộc Nhi đánh đến nơi người dân đều đầu hàng; nhưng càng đánh xuống phía nam thì dân chúng càng phản kháng, chướng ngại lớn nhất của quân Timur chạm trán là quân Rajput có sự hỗ trợ của vương quốc Hồi giáo Bhatner
Rajput không phải là tên một địa phương, cũng không phải là tên một người, mà là tên gọi một sắc dân sống rải rác ở Ấn Độ; những người Rajput có truyền thống tôn sùng võ thuật, hầu hết người dân đều là chiến binh và một khi đã lâm trận thì chỉ có chết chứ không có lùi
Thiếp Mộc Nhi điều chỉnh chiến lược, Timur đánh thành Bhatner (ảnh trên) trước nhằm cắt đứt hậu phương của người Rajput; Rao Dul Chand là chỉ huy quân Bhatner dự định sẽ khô máu với quân xâm lược, nhưng anh trai đã quá khiếp sợ Timur nên âm thầm … sai lính đóng cổng thành giữa lúc người em đang tử chiến với quân Thiếp Mộc Nhi
quân Bhatner bị tàn sát đến người cuối cùng, thành Bhatner sau đó mở cửa ra hàng nhưng cũng bị đồ sát và thiêu rụi; lính Rajput sau đó không đánh tự tan và đại quân Timur lại tiếp tục tiến xuống phương nam
trên đường nam hạ, quân Timur tiếp tục làm cỏ những chiến binh người Jat, một kiểu người du mục bản địa của Ấn Độ; bất chấp người Jat có truyền thống đánh không lại thì chạy và chạy rất nhanh nhưng Thiếp Mộc Nhi đã kịp ra lệnh cho quân Timur mượn tạm 2000 thủ cấp của những người Jat
tháng 12 năm 1398 quân Timur đã tiến đến trước cổng Dehli bấy giờ là một trong những thành phố giàu có nhất thế giới, với thành cao hào sâu không dễ khuất phục; sultan Nasiruddin Mahmud của Dehli đã nhận được viện trợ từ Mallu Iqbal, hình thành nên một đạo quân lớn, chủ lực là 120 voi chiến được bọc giáp và bịt sắt trên ngà
nhiều chiến binh Trung Á của Thiếp Mộc Nhi lần đầu tiên nhìn thấy voi xung trận, sức càn lướt và phá hoại kinh người đã làm chùn bước những chiến binh dày dạn kinh nghiệm
thấy tình huống bất lợi, Timur đã điều chỉnh chiến lược: trước tiên Thiếp Mộc Nhi hạ lệnh lui quân, sau đó cho đào một con hào rộng và sâu chắn trước đội hình; sau đó hạ lệnh mang tới những con lạc đà, chất lên lưng thật nhiều gỗ và cỏ khô nhất có thể
chuẩn bị xong, Timur cho quân tiến lên khiêu chiến; như mọi khi thì quân Dehli thúc voi chiến ra trận, quân Thiếp Mộc Nhi nhanh chóng lùi về; đến trước bờ hào, những con voi phải dừng lại vì không thể nhảy qua được; Timur cho đốt cỏ khô và dùng dùi sắt thúc lạc đà lao vào voi, vừa lao vừa hú lên vì đau đớn
nhìn thấy cảnh tượng kỳ lạ những con lạc đà lao thẳng đến với ngọn lửa từ lưng, những con voi sợ hãi quay lại và giẫm lên quân của Nasir-ud-Din; Thiếp Mộc Nhi tận dụng sự rối loạn của đối phương, thúc quân đánh dấn vào và sau đó giành được chiến thắng dễ dàng
ngày 17 tháng 12 Delhi thất thủ, Nasir-ud-Din Mahmud Shah Tughluq chạy trốn với tàn quân, bỏ lại thành trong đống đổ nát; vương quốc Hồi giáo Delhi thua trận, các cuộc nổi dậy của người dân chống lại đế quốc Timurid bắt đầu xảy ra, dẫn đến một cuộc tàn sát đẫm máu nhằm trả đũa ngay trong thành
sau ba ngày chịu đồ sát, khắp thành Delhi ngập tràn những thi thể đang phân hủy của dân thường với thủ cấp của họ được dựng lên như những ngọn tháp và những thi thể bị lính của Timur treo lên để làm thức ăn cho chim; thành phố Delhi đã không thể phục hồi nổi trong gần một thế kỷ sau đó
năm 1400 Timur đã có trận chiến với sultan Nasir-ad-Din Faraj của Ai Cập để tranh chấp ảnh hưởng ở vùng biên giới; thập niên 1400 đế quốc Timurid tranh chấp biên giới với cả nhà Mamluk ở Ai Cập (ảnh trên) lẫn nhà Ottoman ở phía tây bắc
năm 1401 Thiếp Mộc Nhi xua quân cướp phá Aleppo (ảnh trên) và Damascus; quân Timur cũng quay sang hướng tây nam, tấn công vào Baghdad và thực hiện cuộc đồ sát quy mô: mỗi người lính được lệnh phải giao nộp 2 cái đầu, thế nên lính của Timur chém tất cả những tù binh đã bị bắt từ trước, khi tù binh đã chém hết mà vẫn chưa đủ chỉ tiêu, binh lính đã quay sang chém cả phụ nữ và trẻ em trong thành…
II. Cuộc thập tự chinh Nikopolis
cuối thập niên 1390 quan hệ giữa nhà Timurid và nhà Ottoman đã chẳng tốt đẹp; biên giới đế quốc Timurid ngày càng mở rộng, tiến gần đến lãnh thổ của nhà Ottoman
năm 1299 lập quốc, thế lực người Mông Cổ ở Trung Á bắt đầu suy yếu, nhà Ottoman nhỏ bé đã liên tục bành trướng về phía tây, chiếm đất của Đông La Mã [Byzantine] và xâm lược vùng Balkan, đánh bại người Serbia và hùng bá phía đông Địa Trung Hải
năm 1396 cộng hòa Genova kêu gọi một liên minh nhằm chống lại người Thổ và giúp Sa Hoàng Ivan Shishman (ảnh dưới) Bulgaria lấy lại thủ đô Nikopolis
đáp lại lời hiệu triệu, giáo hoàng Boniface IX kêu gọi các vua chúa châu Âu tổ chức Thập Tự Chinh chống lại người Thổ; cuộc thập tự chinh đã diễn ra trong hoàn cảnh các vua chúa và thế lực tôn giáo ở châu Âu đang chia rẽ: Anh – Pháp vẫn đang trong thời kỳ chiến tranh trăm năm, ngôi vị giáo hoàng bị chia sẻ giữa hai nơi Rome và Avignon (ảnh dưới); chưa kể vùng Nikopolis là đất của Chính Thống Giáo chứ không phải Thiên Chúa Giáo
hưởng ứng lời kêu gọi của Boniface IX (ảnh dưới), các vua chúa phương tây đã gửi đến một đạo quân 3 vạn người từ 20 quốc gia và tổ chức tôn giáo
ngày 28 tháng 9 năm 1396 quân Thập tự chinh đã tấn công phủ đầu quân Ottoman; suốt ngày hôm ấy, chiến sự ác liệt nhưng phòng tuyến quân Thổ vẫn kiên cường đứng vững, mặc dù nhiều người bị bắt làm tù binh
ngày 29 tháng 9 năm 1396 quân Thập tự chinh đã tiếp tục tấn công; quân Ottoman bị đẩy lùi về một ngọn đồi cao, không biết rằng đó là cái bẫy đã được Bayezid I giăng ra; những kỵ sĩ Pháp đã mải lo truy đuổi quân Hồi và chạy theo lên đồi, khi vấp phải những cọc tiêu và hàng rào, các kỵ binh đã xuống ngựa và nhổ các cọc tiêu bằng tay để có đường tiếp tục tiến lên
chỉ huy liên quân đã đề nghị người Pháp hãy dừng lại, chờ cho cánh quân của Hungary tiến lên kịp, có thể trám vào vị trí của họ đã rồi hãy tiếp tục tiến lên; nhưng người Pháp không nghe theo lời khuyên đó, hậu quả là ngay khi đã ì ạch leo lên đến đỉnh đồi, người Pháp không còn thấy đám bại binh mà họ đang truy đuổi đâu nữa, thay vào đó là một đội quân sung mãn và khỏe mạnh đang đứng chờ
quân Pháp chỉ còn nước chạy dài, quân Ottoman đã đánh đúng vào chỗ khuyết trong đội hình mà người Pháp đã để lại và nhà Ottoman đã xoay chuyển cục diện trận chiến chỉ trong một buổi sáng
trận Nikopolis được xem như cuộc thập tự chinh cuối cùng của châu Âu trung đại và kết thúc với thất bại của liên quân; phía Thổ, thắng lợi đã mang lại uy thế cho đế quốc Ottoman trong thế giới Hồi giáo, gọi các chiến binh Ottoman (ảnh dưới) là Ghazi nghĩa là thần binh
với chiến thắng Nicopolis, Bayezid I không những nắm chắc vùng Balkan mà còn xóa tan mọi hy vọng giải nguy cho Constantinopolis của người Tây Âu
III. Trận Ankara
vì những chiến thắng vang dội trên, Bayezid I không xem Thiếp Mộc Nhi ra gì; cuối thập niên 1390 Bayezid I đã buộc hai nước chư hầu của Timur là Armenia và Gruzia thần phục và triều cống cho nhà Ottoman
trở về từ chiến thắng ở Syria, Thiếp Mộc Nhi mang quân (ảnh dưới) đánh Ottoman; Bayezid 1 đã phải miễn cưỡng rút lực lượng Ottoman khỏi cuộc phong tỏa Constantinople và hành quân suốt mùa hè về Ankara
đến nơi, toàn quân đã mỏi mệt và khát nhưng không có thời gian nghỉ ngơi; các tướng lĩnh của Bayezid 1 đã khuyên nên cố thủ, và nếu trong trường hợp bị quân Timur đẩy lùi thì quân Ottoman hãy rút vào vùng núi để buộc quân Thiếp Mộc Nhi phải chia nhỏ hàng ngũ, và đợi qua mùa hè rồi mới phản công; Bayezid 1 đã chọn thế trận tấn công trực diện và hành quân về phía đông
ngày 20 tháng 7 năm 1402 tại cánh đồng Çubuk (gần Ankara ngày nay) lực lượng hai bên đã đối trận; phía quân Timurid, Thiếp Mộc Nhi chỉ huy khu trung tâm, các con trai là Miran và Rukh ở bên phải và bên trái, và các cháu trai là đội tiên phong
Bayezid 1 chỉ huy khu trung tâm quân Ottoman với nòng cốt là các Janissaries - đội cấm vệ - con trai là Suleyman đảm trách cánh trái với những đội quân tinh nhuệ, Stefan Lazarević ở cánh phải chỉ huy quân đánh thuê Serbia, và một người con trai khác là Mehmed chỉ huy hậu đội
quân Timur có lợi thế quân số, người ta ước tính rằng Thiếp Mộc Nhi có tầm 14 đến 20 vạn lính, trong khi quân Ottoman là 65000 và thêm 2 vạn quân Serbia đánh thuê
quân Ottoman đã xông lên đánh trước và sớm hứng chịu đội cung kỵ Mông Cổ bên phía Timurid bắn ra trận mưa tên dày đặc, ước tính vài ngàn binh sĩ đã thiệt mạng chỉ sau mấy loạt tên đầu; phía Ottoman tung đội kỵ binh Serbia vào chiến trường, mang trên người tấm áo giáp đen dày, tỏ ra rất hiệu quả để chống chịu các mũi tên từ quân Timurid
quân Serbia đã chiến đấu dũng mãnh, chính Thiếp Mộc Nhi còn khen họ là “chiến đấu như những con sư tử trên chiến trường”; liên tiếp ba ngày, Stefan Lazarević và các hiệp sĩ đã ba lần thành công chặn được các cuộc tấn công của Timurid và thậm chí cứu được một người con của Bayezid và ngân khố của quân Ottoman khi suýt bị mất về tay quân Timurid
ngày thứ tư, quân Ottoman nguy khốn; quân của Thiếp Mộc Nhi đã chiếm con lạch Çubuk là nguồn cung cấp nước chính cho chiến trường, khi quân Ottoman không còn nước dự trữ thì kết cục đã ngã ngũ
trận chiến cuối cùng diễn ra tại đồi Catal, quân Ottoman vừa khát vừa mệt đã bị đánh bại; Bayezid 1 chạy thoát đến những ngọn núi gần đó với vài trăm kỵ binh
quân số Timur vượt trội đã nhanh chóng tìm ra và bắt được Bayezid 1 (ảnh trên) lần đầu tiên trong lịch sử, một sultan Thổ bị bắt làm tù binh
đồn đại rằng Timur đã bắt giam Bayezid I và xích lại trong lồng, trong khi vương hậu của Bayezid phải làm hầu gái phải khoả thân hoàn toàn trong cung điện của Thiếp Mộc Nhi, là một cách hạ nhục đối thủ
chủ đề Bayezid bị giam cầm đã trở thành một chủ đề nóng bỏng trong thơ ca nghệ thuật châu Âu thời trung đại
theo sử sách chính thống thì Bayezid 1 không hề bị đối xử tàn nhẫn như vậy, chỉ 3 tháng sau khi bị giam cầm, Bayezid I đã qua đời trong cung điện của Timur ở Smakand; có người kể rằng Bayezid 1 đập đầu vào song sắt nhà giam, có người bảo Bayezid 1 uống thuốc độc được giấu trong chiếc nhẫn; song, nguyên nhân hợp lý nhất có lẽ là do không hợp thủy thổ
nền chính trị Balkan, khi đó đế quốc Ottoman đang nắm quyền chủ động nhưng do cuộc xâm lược của Timurid, cuộc vây hãm Constantinopolis bị chấm dứt và quân Ottoman rút khỏi Balkan
các con trai của Beyazid vẫn còn sống và tự do, dẫn đến cuộc nội chiến giữa bốn người con trai của Bayezid làm đế quốc Ottoman tạm suy yếu và sự sụp đổ của đế quốc Đông La Mã [Byzantine] và cuộc xâm lược Balkan đã bị chậm lại một thời gian
chiến thắng trận Ankara đã khiến Thiếp Mộc Nhi trở thành “bạn tốt” của các nước phong kiến châu Âu: ngay khi chiến sự đang diễn ra, người Genova đã treo cờ của Mông Cổ trên các bức tường thành Galata để ủng hộ Timur; bấy giờ, bên cạnh Thiếp Mộc Nhi có hai sứ giả của hai vương quốc León và Castile là Pelayo de Sotomayor và Fernando de Palazuelos
Timur đã gửi sứ giả Hajji Muhammad al-Qazi, đến từ Sát Hợp Đài Hãn Quốc, mang thư và quà đến triều đình; phúc đáp, năm 1403 Henry III (ảnh trên) của Castile đã gửi sứ giả Ruy González de Clavijo đến triều đình của Thiếp Mộc Nhi ở Samarkand, cùng hai sứ giả khác là Alfonso Paez và Gomez de Salazar; khi đoàn sứ giả trở về, Timur khẳng định trong thư rằng ông coi vua của Castile “như con ruột của mình”
IV. Trách vì thầy thuốc dở dang
năm 1368 Chu Nguyên Chương chính thức lên ngôi hoàng đế ở Nam Kinh, đổi quốc hiệu là Đại Minh rồi sai tướng Từ Đạt (ảnh dưới) kéo 25 vạn quân Bắc tiến tấn công thủ đô Đại Đô của nhà Nguyên, là Bắc Kinh ngày nay
Ô Cáp Cát Đồ hãn là vua cuối cùng của triều Nguyên, Nguyên Huệ Tông là dòng dõi chính thống của Thành Cát Tư Hãn, là Hãn của các Hãn đối với những quốc gia bị người Mông Cổ chiếm đóng; bấy giờ tuy thế lực của quân Mông Cổ đã suy nhưng ở Trung Á, ngoại Mông Cổ và mạn Siberia vẫn còn những Hãn Quốc [khanate] làm chỗ dựa cho Huệ Tông
năm 1370 Nguyên Huệ Tông ốm nặng rồi mất, nhà Minh chính thức tiếp quản Trung Quốc
năm 1394 Hồng Vũ Đế Chu Nguyên Chương sai sứ thần mang thư bố cáo đến trao cho Thiếp Mộc Nhi, viết rằng nhà Minh đã tiếp quản triều Nguyên, thế nên Timur có thể được xem như là … một thần dân của Đại Minh và có nghĩa vụ phục tùng triều đình
Thiếp Mộc Nhi nổi giận lôi đình ra lệnh bắt giam ba sứ thần Phó An, Quách Kính và Lưu Uy; những sứ thần tiếp theo mà Hồng Vũ Đế phái tới là Trần Đức Văn và sau này phái đoàn thông báo Vĩnh Lạc Đế (Minh Thành Tổ – Chu Lệ) đăng quang cũng đều được nhập kho
Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh, Timur còn nhiều việc phải lo như đánh nhau với Thoát Thoát Mê Thất, chinh phục Ấn Độ… nên đến tận năm 1402 Vĩnh Lạc Đế lên ngôi thì Thiếp Mộc Nhi mới có thì giờ để “nghiêm túc” đàm đạo với Cathay – tức Trung Hoa theo tên gọi thời Trung Cổ
tự nhận là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, việc nhà Minh đuổi người Mông Cổ ra khỏi Trung Nguyên đã là một chuyện mà Timur “không thể chấp nhận được”, vì vậy mặc cho nhà Minh có gửi đến bao nhiêu sứ giả đi nữa cũng không thể thay đồi được thái độ của Thiếp Mộc Nhi
năm 1402 Timur lên kế hoạch xâm lược Trung Quốc, liên minh với các bộ lạc Mông Cổ còn sót lại ở bình nguyên Mông Cổ và chuẩn bị một đội quân để đến Bukhara
Đại hãn Bắc Nguyên khi ấy là Khắc Đồ Hãn đã gửi cháu trai Bản Nhã Thất Lý [Buyanshir Khan sau khi đổi sang Hồi giáo lúc đang ở Samarkand] đến gặp sứ giả của Thiếp Mộc Nhi để bàn kế hoạch tác chiến
tháng 12 năm 1404 Timur 'chốt' thực hiện chiến dịch quân sự đánh nhà Minh vào mùa đông năm ấy, huy động 20 vạn quân sẽ băng qua tuyết sâu và những con sông đóng băng để tới Trung Quốc; sau rốt, thời tiết xấu đã buộc đoàn quân dừng lại ở Kazakhstan - một mùa đông được mô tả là “khắc nghiệt nhất trong lịch sử”, quân lính của Thiếp Mộc Nhi đã phải đào sâu mấy chục thước vào lòng đất để tìm nước
đầu năm 1405 Timur bị cảm lạnh khi đang ẩn náu ở sông Syr Daria
ngày 18 tháng 2 năm 1405 Thiếp Mộc Nhi mất tại Farab, quân Timur vẫn chưa đến được biên giới Trung Quốc
cuộc viễn chinh đánh Trung Quốc đã bị hủy bỏ, và thi hài của Thiếp Mộc Nhi đã được đưa về Samarkand và mai táng dưới vòm mộ Gur-e Amir trong một chiếc quan tài bằng thép dưới một tấm ngọc bích dài 6 feet
nhà địa lý Clements Markham (ảnh trên) trong phần giới thiệu câu chuyện về chuyến thăm Samarkand của sứ giả Ruy González de Clavijo (ảnh dưới) người Tây Ban Nha, nói rằng: sau khi Timur qua đời, thi thể của Thiếp Mộc Nhi “được ướp với xạ hương và nước hoa hồng, bọc trong vải lanh, đặt trong quan tài bằng gỗ mun và gửi đến Samarkand, nơi nó được chôn cất.”
lăng mộ Gur-e Amir vẫn còn ở Samarkand, đã được trùng tu rất nhiều trong những năm gần đây; bia lăng có ghi: “Đây là nơi nghỉ ngơi của một vị vua hùng mạnh và vĩ đại, vị vua vĩ đại nhất, chiến binh hùng mạnh nhất, Chúa Timur, Đấng Chiến thắng của Thế giới”
Thiếp Mộc Nhi tử ẹo, các con trai đã nội loạn tranh giành quyền kế vị; trước đó Timur đã hai lần bổ nhiệm trữ quân: năm 1376 con trai trưởng Jahangir đã chết bệnh (ảnh dưới: lăng mộ), ngày 13 tháng 3 năm 1403 cháu trai Muhammad Sultan đã không thể qua khỏi với vết thương khi chiến đấu
sau cái chết của cháu trai, Thiếp Mộc Nhi đã không còn đề cập đến người kế vị nữa; chỉ khi đang nằm trên giường hấp hối, Timur mới chỉ định người cháu thứ hai Pir Muhammad là em trai của Muhammad Sultan làm người kế vị
Pir Muhammad (ảnh dưới) đã không nhận được sự ủng hộ đầy đủ từ những người thân, nhất là từ những ông chú tức là những con trai khác của Thiếp Mộc Nhi; ngoài người con đã chết sớm, Timur còn 3 người con trai khác cũng là những chiến binh dũng mãnh từng lập nhiều chiến tích
con thứ 2 của Thiếp Mộc Nhi là Umar Shaikh cũng là một tướng lĩnh từng theo cha chinh chiến từ sớm; năm 1393 Timur đánh bại triều đại Muzaffarid của Ba Tư, bắt và xử tử quốc vương Shah Mansur; Thiếp Mộc Nhi đã ban tặng lãnh thổ Fars trước đây của vương quốc cho Umar Shaikh (ảnh dưới)
tháng 2 năm 1394 dẫn quân đánh Baghdad, Umar Shaikh bị bắn vào cổ bởi một mũi tên bắn từ pháo đài Tuz Khurmatu (ảnh dưới); Timur được kể là đã không biểu lộ bất kỳ cảm xúc nào khi biết tin con trai thứ tử nạn
con thứ 3 là Miran Shah đã theo Thiếp Mộc Nhi chinh chiến sớm nhất, từ năm 14 tuổi và lập nhiều chiến công nhất; thập niên 1380 Miran đã góp phần quan trọng trong những cuộc chiến chống lại Thoát Thoát Mê Thất, Timur đã trao cho Miran những vùng Baghdad, Tabriz (ảnh dưới) và Soltaniyeh trù phú nhất của Y Nhi Hãn Quốc cũ
năm 1392 Miran ngã ngựa trong một lần đi săn, tuy không chết nhưng có vẻ đã ảnh hưởng đến đầu óc; Miran bắt đầu chè chén và tiêu xài hoang phí, tương truyền rằng trong cung điện của Miran Shah rượu chảy tràn như suối; cả cung điện thường xuyên bị biến thành … sòng bài, mỗi khi thắng được tiền thì Miran thường đứng trên lầu cao ném tiền xuống cho thiên hạ trầm trồ dưới đường
mỗi khi lên cơn điên, Miran Shah (ảnh dưới) lại cho đập phá hay đốt một công trình kiến trúc nào đó, để cho mọi người phải nhớ rằng “dù không xây nên cái gì cả nhưng ta đã phá nát các công trình nổi tiếng đó”
chiến tích sa trường của Miran Shah cũng tụt dốc, năm 1395 bị đánh bại bởi quân Jalayirid và quân Georgia nhưng không bị Thiếp Mộc Nhi qưở trách; tiếng xấu đồn xa, cho tới khi chính thất của Miran Shah phải bỏ chạy khỏi cung điện, bà này chạy một mạch đến chỗ bố chồng, quần áo xốc xếch và mái đầu bị đổ phẩm màu loang lổ; bà khóc lóc, tố cáo Miran đã hóa điên và có nhiều hành động phản nghịch: Tuyên bố càn rỡ sẽ sớm thay chỗ Timur khi ông chầu trời và tiến hành xây dựng quân đội riêng
năm 1399 Thiếp Mộc Nhi cử một đoàn thanh tra đến xác minh lời đồn, Miran Shah không hề chống cự mà tự trói mình và đến chỗ Timur cầu xin sự tha thứ; các quan đại thần cũng nói đỡ cho Miran, không bị khép tội chết nhưng bị 4 năm quản thúc trong cung điện; những thân tín của Miran đã bị đày đi biệt xứ hoặc khép tội tử hình vì đã làm hoàng tử sa đọa
Miran Shah không thể đứng vào hàng ngũ khalip [người thừa kế] nhưng các con của Miran vẫn giữ được bổng lộc và không bị mất quyền chỉ huy quân đội; Timur qua đời, Miran và con trai Abu Bakr đã tiến quân về phía tây để ngăn chặn sự nổi dậy của các tàn dư thế lực cũ trong vùng
năm 1408 hai cha con Miran và Abu bị đánh bại trong trận Sardrud (ảnh trên) Abu Bakr may mắn chạy kịp nhưng Miran thì không; người Thổ Nhĩ Kỳ đã gửi đầu và thi thể của Miran Shah, cùng với lời chia buồn, tới Shah Rukh (ảnh dưới) ngày 20 tháng 2 năm 1405 được chọn làm khalip [người kế vị]; Miran Shah được chôn cất tại lăng mộ Gur-e-Amir ở Samarkand
con út của Thiếp Mộc Nhi tên là Sa Cáp Lỗ [Shah Rulkh nghĩa là “nhập thành”] tương truyền rằng khi Rulkh ra đời, Timur đang đánh cờ vua với cận thần; người hầu đã hỏi Thiếp Mộc Nhi muốn đặt tên gì cho con trai sơ sinh, Timur vẫn không ngẩng lên, tay vẫn không rời quân cờ và bảo “nhập thành”
năm 1397 Sa Cáp Lỗ được cha bổ nhiệm làm thống đốc Khorasan có thủ phủ là Herat; Khorasan là khu vực quan trọng, nhưng Sa Cáp Lỗ không bao giờ được thăng chức vượt quá vị trí này trong suốt cuộc đời của Thiếp Mộc Nhi
có ý kiến cho rằng Timur tin rằng Sa Cáp Lỗ không có những phẩm chất cá nhân cần thiết để cầm quyền; mặc dù Hoàng tử vào thời điểm này đã nổi tiếng về sự khiêm tốn quá mức cũng như lòng sùng đạo cá nhân
Thiếp Mộc Nhi chết, cháu Pir Muhammad được chỉ định làm khalip [người kế vị] nhưng con trưởng Khalil của Miran Shah ngày 18 tháng 2 năm 1405 tự xưng sultan tại Tashkent (ảnh trên) và chiếm giữ ngân khố hoàng gia, cũng như kinh đô Samarkand (ảnh dưới) đế quốc Timurid
Sa Cáp Lỗ đã hành quân khỏi Herat và đến đóng quân bên bờ sông Oxus nhưng không có động thái tấn công nào; có thể vì Miran Shah, cha của Khalil, cùng với Abu Bakr đã cũng có những đội quân lớn sẵn sàng tham chiến; cả hai người này đều không thể gia nhập với Khalil, vì người Jalayirids và Qara Qoyunlu đã lợi dụng cái chết của Thiếp Mộc Nhi để nổi dậy ở phía tây
năm 1408 Miran Shah bị giết, năm 1409 Abu Bakr tử trận; từ năm 1409 tình hình chiến sự đảo chiều sang hướng có lợi cho Shah Rukh
sultan Khalil (ảnh trên) bắt đầu mất đi sự ủng hộ của các tiểu vương ở Samarkand; một nạn đói đã lan rộng sự bất bình của nhân dân, sultan Khalil đã bị bắt giữ bởi thủ lĩnh Khudaidad Hussain của bộ tộc Dughlat, người từng là cố vấn của hoàng tử; Hussain đưa Khalil Sultan đến Ferghana và tuyên bố là người cai trị ở Andijan (ảnh dưới)
Samarqand, bị bỏ rơi, đã được Shah Rulkh tiếp nhận; sultan Khalil, sultan Husayn và Pir Muhammad đều chết; Shah Rulkh không còn đối thủ, nghiễm nhiên trở thành người cai trị mới của đế quốc Timurid đã bắt đầu bị cắt vụn bởi sự nổi dậy của các thủ lĩnh địa phương
năm 1447 Shah Rulkh qua đời, các con trai đã tiếp tục chiến sự tranh ngôi khalip; suốt nửa thế kỷ, các hậu duệ của Thiếp Mộc Nhi cứ thế đánh nhau
năm 1501 cháu sáu đời của Timur là Babur (ảnh trên) sau khi để mất Sarmarkand lần thứ ba đã quyết định tiến vào Ấn Độ, lập ra nhà Mogul (cách nói trại của Mongol – nghĩa là Mông Cổ); triều đại Mogul đã thống nhất và trị vì miền bắc Ấn Độ từ thế kỷ 16 đến năm 1857 khi người Anh gõ cửa
Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024
bóng bán dẫn tiếp xúc điểm
ngay cả những người phát minh cũng đã không hiểu hoàn toàn về bóng bán dẫn tiếp xúc điểm
Glenn Zorpette ngày 20 tháng 11 năm 2022 năm 1955 AT&T công bố bức ảnh cho thấy (từ trái sang) một bóng bán dẫn quang, một bóng bán dẫn tiếp-giáp và một bóng bán dẫn tiếp xúc điểm.
ỐNG CHÂN KHÔNG TRI-ỐP chưa đầy 20 tuổi khi các nhà vật lý bắt đầu cố gắng tạo ra sản phẩm kế nhiệm, đây là ván đầu tư rất lớn. Ống ba cực đã không chỉ hiện thực hoá điện thoại đường dài và âm thanh phim, nó còn thúc đẩy toàn bộ doanh nghiệp phát thanh thương mại, một ngành công nghiệp trị giá hơn một tỷ đô la năm 1929. Nhưng các ống chân không rất ngốn điện và dễ vỡ. Nếu có thể tìm thấy một giải pháp thay thế chắc chắn, đáng tin cậy và hiệu quả hơn tri-ốp, phần thưởng sẽ là rất lớn. mục tiêu là một thiết bị ba-đầu-cuối được làm từ vật liệu bán dẫn sẽ chấp nhận tín hiệu dòng điện thấp đi vào đầu vào và sử dụng nó để kiểm soát dòng điện lớn hơn chảy giữa hai thiết bị đầu cuối khác, nhờ thế sẽ khuếch đại tín hiệu ban đầu. Nguyên lý cơ bản của một thiết bị như vậy sẽ là một hiệu ứng trường - khả năng của điện trường để điều chỉnh độ dẫn điện của vật liệu bán dẫn. Hiệu ứng trường đã được biết đến nhiều trong những ngày đó, nhờ các điốt và nghiên cứu liên quan đến vật liệu bán dẫn. hai thập kỷ, việc chế tạo một thiết bị như vậy đã gây ra thách thức không thể vượt qua cho một số nhà vật lý hàng đầu thế giới. Các bằng sáng chế cho các thiết bị giống như bóng bán dẫn đã được nộp bắt đầu từ năm 1925, nhưng trường hợp đầu tiên được ghi nhận về bóng bán dẫn đang hoạt động là thiết bị tiếp xúc điểm huyền thoại được chế tạo tại Phòng thí nghiệm Điện thoại Bell của công ty AT&T mùa thu năm 1947. dù bóng bán dẫn tiếp xúc điểm là phát minh quan trọng nhất thế kỷ 20, đáng ngạc nhiên là không có ghi nhận nào rõ ràng, đầy đủ và có thẩm quyền về cách thức hoạt động của sản phẩm. Các bóng bán dẫn tiếp-giáp và bóng bán dẫn phẳng hiện đại, mạnh mẽ hơn là nhờ vào vật lý trong một cục linh kiện bán dẫn, thay vì các hiệu ứng bề mặt đã được khai thác trong bóng bán dẫn đầu tiên. Và khá ít nỗ lực nghiên cứu đã được chú ý đến cho khác biệt này. bức ảnh cắt của một bóng bán dẫn điểm tiếp xúc, có thể nhìn thấy hai dây dẫn mỏng; chúng kết nối với các điểm tiếp xúc với một phiến gecmani nhỏ. Một trong những điểm này là bộ phát và điểm còn lại là bộ thu. Điểm tiếp xúc thứ ba, cực gốc, được gắn vào mặt sau của gecmani
sản phẩm là một tập hợp trông vô duyên gồm gecmani, nhựa polystyren và lá vàng, tất cả đều được phủ lên bởi một lò xo nguệch ngoẹo. Các nhà phát minh là lý thuyết gia John Bardeen kiệm lời đến từ vùng Trung Tây, và nhà thực nghiệm lắm mồm và "hơi nóng tính" Walter Brattain đều đang làm việc dưới trướng William Shockley tháng 11 năm 1947 Bardeen và Brattain đã bị cản trở bởi một vấn đề đơn giản. Trong vật liệu bán dẫn germani họ đang sử dụng, một lớp electron bề mặt dường như đang chặn một trường điện được áp lên, ngăn nó không xuyên được vật liệu bán dẫn và điều chế được dòng điện. Không điều chế, không khuếch đại tín hiệu. cuối năm 1947 họ đạt được một giải pháp: hai mảnh lá vàng sẽ tách rời nhau vừa đủ xa, được đẩy nhẹ bởi một lò xo nguệch ngoẹo lên bề mặt của một phiến vật liệu gecmani nho nhỏ. sách vở và các ghi chép thông thường đã có xu hướng bỏ qua cơ chế của bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, chỉ giải thích cách hoạt động của các bóng bán dẫn hậu duệ gần đây. Thật vậy, ấn bản hiện tại của sách Nghệ thuật Điện tử tác giả Horowitz và Hill, được coi là sách giáo khoa của sinh viên điện và điện tử [EE electrical and electronics], không đề cập đến bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, bỏ qua sự tồn tại của nó bằng cách nói sai rằng bóng bán dẫn tiếp-giáp là một "phát minh đoạt giải Nobel năm 1947." trong khi thực tế thì bóng bán dẫn được phát minh năm 1947 là tiếp xúc điểm; bóng bán dẫn tiếp-giáp được phát minh bởi Shockley năm 1948 có lẽ lời giải thích toàn diện nhất về bóng bán dẫn tiếp xúc điểm là nằm trong bài giảng của John Bardeen cho giải Nobel ấy, được ông giảng dạy năm 1956. Mặc dù vậy, việc đọc bài giảng ấy sẽ mang lại cho độc giả cảm giác rằng chính những nhà phát minh có thể đã lảng tránh một vài chi tiết tinh tế. Thomas Misa, cựu giám đốc Viện Lịch sử Khoa học và Công nghệ Charles Babbage tại Đại học Minnesota, cho biết: "Rất nhiều người đã bối rối bởi bóng bán dẫn tiếp xúc điểm". năm 1957 giáo sư R. D. Middlebrook (ảnh dưới) kỹ thuật điện tại Caltech, người đã tiếp bước công việc tiên phong trong lĩnh vực điện tử điện lực, đã viết: "Do đặc điểm ba chiều của thiết bị, phân tích lý thuyết là khó; thực tế thì hoạt động bên trong vẫn chưa được hiểu hết." ngày nay, trải qua 75 năm lý thuyết bán dẫn, bài viết này sẽ thử phân tích: Bóng bán dẫn tiếp xúc điểm được chế tạo dựa trên một phiến gecmani loại-n cỡ-ngón-tay-cái, thuật ngữ loại-n ám chỉ rằng vật liệu mang điện tích âm [negative] tức là dư thừa các electron. phiến gecmani này đã được xử lý để tạo ra một lớp bề mặt rất mỏng loại-p, có nghĩa là nó dư thừa các điện tích dương. Những điện tích dương này được gọi là lỗ trống; thật ra là sự thiếu hụt cục bộ của các electron sẽ song hành với các nguyên tử của vật liệu bán dẫn, có thể coi như một hạt thực. một điện cực được nối đất sẽ được gắn vào đáy của phiến gecmani ấy, tạo ra phần đế [base] của bóng bán dẫn. Hai dải lá vàng chạm lên bề mặt sẽ tạo ra hai điện cực nữa, được gọi là bộ phát và bộ thu. xong thiết kế sản phẩm, khi hoạt động, một điện áp dương nhỏ - chưa đến một vôn - được áp lên bộ phát; và một điện áp âm lớn hơn - từ 4 đến 40 vôn - được áp lên bộ thu, tất cả là chênh lệch điện thế so với đế [base] nối đất. Ranh giới giữa lớp loại-p và phiến vật liệu loại-n đã tạo ra một tiếp giáp giống như tiếp giáp được tìm thấy trong đi-ốp: Về cơ bản, vùng tiếp giáp là một rào cản cho phép dòng điện chảy dễ dàng chỉ theo một hướng, về phía điện áp thấp hơn. Vì vậy, dòng điện có thể chảy từ bộ phát dương, vượt qua rào ngăn; trong khi không có dòng điện nào có thể chảy qua hàng rào ấy vào bộ thu. bóng bán dẫn tiếp xúc điểm Type-2 của công ty Western Electric là bóng bán dẫn đầu tiên được sản xuất hàng loạt, năm 1951 tại nhà máy của Western Electric ở Allentown, tiểu bang Pennsylvania. Năm 1960 khi bức ảnh này được chụp, nhà máy đã chuyển sang sản xuất bóng bán dẫn tiếp-giáp. (TRUNG TÂM LƯU TRỮ LỊCH SỬ AT&T)
đầu tiên, ta ngắt kết nối bộ thu và xem điều gì xảy ra với bộ phát. Bộ phát đưa các điện tích dương - các lỗ trống - vào lớp loại-p, và những lỗ trống sẽ di chuyển về phía đế [base] nhưng không lao thẳng về phía base. Lớp mỏng buộc các lỗ trống phải dàn ngang ra trong một đoạn đường nhất định, trước khi đi qua rào chắn vào phiến vật liệu loại-n. Giống như việc từ từ rót một lượng nhỏ bột mịn lên bề mặt nước. Sau rốt, bột sẽ chìm hết, nhưng mới đầu thì bột sẽ trải ra thành một cục vòng tròn. giờ ta kết nối bộ thu. Mặc dù bộ thu không thể tự hút được dòng điện qua hàng rào của điểm nối p-n, nhưng điện áp âm lớn và thù hình nhọn của bộ thu sẽ dẫn đến một trường điện tập trung sẽ xuyên qua gecmani. Bởi vì bộ thu rất gần với bộ phát và cũng có điện tích âm, bộ thu bắt đầu hút nhiều lỗ trống đang đi ra từ bộ phát. Dòng điện tích này sẽ khiến các lỗ trống sẽ tập trung gần hàng rào p-n ở bên dưới bộ thu. Mật độ lỗ trống sẽ làm giảm hiệu quả "sức mạnh" của rào cản, là thứ ngăn dòng điện chảy giữa bộ thu và đế. Vì hàng rào được hạ xuống, dòng điện bắt đầu chảy từ đế vào bộ thu - dòng điện lớn hơn nhiều so với dòng điện của bộ phát đang đưa vào bóng bán dẫn. sức mạnh dòng điện sẽ tuỳ vào sức mạnh của rào cản. Điện áp của bộ phát bị giảm hoặc tăng nhỏ sẽ khiến rào cản thay đổi lên và xuống, tương ứng. Cho nên những dao động rất nhỏ của dòng điện bộ phát sẽ điều khiển những thay đổi rất lớn tại bộ thu. (kỹ sư điện và điện tử sẽ nhận thấy rằng các chức năng của đế và bộ phát đã bị đảo ngược so với các chức năng trong các bóng bán dẫn sau này, đế, không phải bộ phát, điều khiển phản ứng của bóng bán dẫn) mặc dù dễ vỡ và không tinh tế, đây là một bộ khuếch đại bán dẫn, và thế hệ con cháu của nó sẽ thay đổi thế giới; ngày 16 tháng 12 năm 1947 Brattain nảy ra ý tưởng sử dụng một miếng nhựa dẻo polystyren hình tam giác, buộc một dải lá vàng, chỉ một khe nhỏ ngăn cách các tiếp điểm của bộ phát và bộ thu. Thiết kế đã giúp tăng điện năng lên mức đáng tin cậy, và hai người biết rằng họ đã thành công. Đêm ấy, đi chung xe công ty chở về nhà, Brattain nói với những người bạn đồng hành rằng anh vừa thực hiện "thí nghiệm quan trọng nhất mà tôi từng làm trong đời" và bắt họ thề giữ bí mật. Bardeen cũng không thể cưỡng lại việc khoe khoang, khi vợ Jane (ảnh dưới) chuẩn bị bữa tối hôm đó, Bardeen bảo vợ, "Hôm nay bọn anh đã phát hiện ra điều gì đó."; những đứa con của họ chạy khắp nhà bếp, vợ anh trả lời, "Thật tuyệt, anh yêu." sản phẩm là một bóng bán dẫn khá ọp ẹp. Sau đó, các nhà phát minh đã có ý tưởng dùng điện tạo thành bộ thu, bằng cách truyền các dòng điện lớn qua nó, trong khi sản xuất bóng bán dẫn. Kỹ thuật này cho phép họ có được các dòng điện lớn hơn một chút, mà không bị giới hạn quá bé bên trong lớp bề mặt. Tuy nhiên, ý tưởng mang tính hú hoạ. "Họ chỉ đơn giản là sẽ vứt bỏ sản phẩm nếu thử thấy không hoạt động," Misa nói. các bóng bán dẫn tiếp điểm đã được đưa vào sản xuất ở nhiều công ty, bản quyền của AT&T, và năm 1951 cả ở chi nhánh sản xuất Western Electric của chính AT&T. Sản phẩm được sử dụng trong máy trợ thính (ảnh trên), bộ dao động, thiết bị định tuyến điện thoại, trong một máy thu Tivi thử nghiệm được chế tạo tại RCA và trong Tradic là máy điện toán kỹ thuật số trên không đầu tiên, và các hệ thống khác. Bóng bán dẫn tiếp xúc điểm đã được sản xuất cho đến năm 1966, phần vì tốc độ vượt trội so với các lựa chọn thay thế. đội ngũ Bell Labs không phải nhóm duy nhất đã thành công theo đuổi bóng bán dẫn. Ở vùng Aulnay-sous-Bois ngoại ô phía đông bắc Paris, hai nhà vật lý người Đức, Herbert Mataré (ảnh trên) và Heinrich Welker (ảnh dưới) làm việc ở chi nhánh Westinghouse tại Pháp, cũng đang cố gắng chế tạo một bộ khuếch đại bán dẫn ba đầu. Họ đã bám theo những quan sát của Mataré đã thực hiện khi phát triển các bộ chỉnh lưu gecmani và silic cho quân đội Đức năm 1944. Tháng 6 năm 1948 hai người đã thành công tạo ra một bóng bán dẫn tiếp xúc điểm đáng tin cậy. hai người rất ngạc nhiên, một tuần sau đó, khi Bell Labs tiết lộ tin tức về bóng bán dẫn tại một cuộc họp báo ngày 30 tháng 6 năm 1948. Mặc dù được phát triển hoàn toàn độc lập, và đều bí mật, hai thiết bị ít nhiều giống hệt nhau. sếp William Shockley đã rất tức giận vì tên của anh không được vinh danh cùng với tên của Bardeen và Brattain trong đơn xin cấp bằng sáng chế ban đầu cho bóng bán dẫn. Shockley tin rằng Bardeen và Brattain đã áp dụng lý thuyết của Shockley về việc sử dụng các trường điện trong vật liệu bán dẫn vào thiết bị họ đang nghiên cứu, và đã không ghi nhận thoả đáng Shockley vào đăng ký sáng chế. Tuy nhiên, năm 1945 Shockley đã chế tạo một bóng bán dẫn dựa trên chính những lý thuyết đó, và nó đã không hoạt động. năm 1953 kỹ sư Gerald Herzog công ty RCA đã lãnh đạo đội ngũ thiết kế và chế tạo chiếc tivi "hoàn toàn là bóng bán dẫn" đầu tiên (nhưng vẫn có một ống tia âm cực). Sản phẩm trang bị những bóng bán dẫn tiếp xúc điểm của RCA sản xuất, bản quyền của Bell Labs. BẢO TÀNG BÓNG BÁN DẪN JERRY HERZOG LỊCH SỬ TRUYỀN MIỆNG
cuối tháng 12 chỉ hai tuần sau thành công ban đầu của bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, Shockley đến Chicago tham dự cuộc họp thường niên của Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ. Đêm giao thừa, ẩn náu trong phòng khách sạn và bị thôi thúc lẫn lộn giữa đố kỵ và phẫn nộ, Shockley bắt đầu thiết kế một bóng bán dẫn của riêng mình. Trong ba ngày, anh đã viết nguệch ngoạc 30 trang ghi chú. Cuối tháng, anh đã có thiết kế cơ bản cho cái sẽ được gọi là bóng bán dẫn tiếp giáp lưỡng cực [BJT bi-polar junction] cuối cùng sẽ thay thế bóng bán dẫn tiếp xúc điểm và ngự trị thị trường đến cuối thập niên 1970. nhờ những kiến thức nội bộ đã lượm lặt từ công trình của Bell Labs, năm 1948 RCA bắt đầu phát triển các bóng bán dẫn tiếp điểm của riêng hãng. Loạt sản phẩm có bảy chiếc được hiển thị ảnh trên - bốn trong số đó đã được lắp trong Tivi trang bị 22 bóng bán dẫn của RCA chế tạo thử nghiệm năm 1953. Bốn cái này là TA153 [hàng trên, thứ hai từ trái sang], TA165 [trên, ngoài cùng bên phải], TA156 [hàng dưới, giữa] và TA172 [dưới, phải]. BỘ SƯU TẬP BẢO TÀNG TRANSISTOR JONATHAN HOPPE
BJT dựa trên niềm tin của Shockley rằng các điện tích có thể, và nên, chảy qua các vật liệu bán dẫn to lớn thay vì đi qua một lớp mỏng trên bề mặt. Thiết bị bao gồm ba lớp vật liệu bán dẫn, giống như một chiếc bánh sandwich: một bộ phát, một đế ở giữa và một bộ thu. Chúng được pha tạp xen kẽ, vì vậy có hai phiên bản: n-type/p-type/n-type, được gọi là "NPN" và p-type/n-type/p-type, được gọi là "PNP." BJT cơ bản dựa trên các nguyên tắc giống như bóng bán dẫn tiếp điểm, nhưng sử dụng hai tiếp giáp p-n thay vì một. Khi được sử dụng như một bộ khuếch đại, một điện áp dương được áp dụng cho đế cho phép một dòng điện nhỏ chảy giữa nó và bộ phát, từ đó điều khiển một dòng điện lớn giữa bộ thu và bộ phát. ví dụ một thiết bị NPN. Đế là loại-p, tức là dư các lỗ trống. Nhưng đế rất mỏng và chỉ được pha tạp nhẹ, vì vậy có tương đối ít lỗ trống. Một phần nhỏ các electron chảy vào kết hợp với các lỗ này và bị trung hoà điện tích, trong khi phần lớn (hơn 97%) các electron tiếp tục chảy qua đế mỏng và vào bộ thu, tạo ra dòng điện mạnh. số ít electron đã kết hợp với các lỗ trống sẽ phải được rút ra từ đế, để duy trì bản chất loại-p của đế và dòng điện mạnh qua đế. Việc loại bỏ các electron "bị bắt" được thực hiện bởi một dòng điện tương đối nhỏ qua đế. Dòng điện nhỏ giọt ấy sẽ cho phép dòng điện mạnh hơn nhiều vào bộ thu, và sau đó ra khỏi bộ thu và vào mạch điện bộ thu. Thực tế thì, dòng điện nhỏ ở đế đang điều khiển mạch điện bộ thu. các trường điện sẽ có vai trò, nhưng không phải là điều chế dòng điện, thứ mà các lý thuyết gia ban đầu đã nghĩ rằng sẽ phải xảy ra để một thiết bị như vậy hoạt động. Đại ý là: Cả hai vùng tiếp giáp p-n trong BJT đều bị bao bọc bởi các vùng nghèo, nơi các electron và lỗ trống đã kết hợp với nhau cho nên có ít những hạt mang điện tích di động. Điện áp được áp lên các vùng tiếp giáp sẽ tạo ra trường điện ở từng tiếp giáp, đẩy các điện tích qua các vùng đó. Các trường điện này cho phép các electron chảy từ bộ phát, qua đế và vào bộ thu. trong BJT "những trường điện được áp lên sẽ ảnh hưởng đến mật độ hạt mang điện tích, nhưng vì hiệu ứng ấy là theo cấp số nhân, chỉ tốn một chút để tạo ra nhiều dòng điện khuếch tán", chủ tịch Ioannis John Kymissis (ảnh trên) khoa kỹ thuật điện của Đại học Columbia giải thích. bóng bán dẫn đầu tiên là một thiết kế được gọi là tiếp xúc điểm, vì có các tiếp điểm kim loại chạm vào bề mặt của vật liệu bán dẫn. Họ đã tăng cường dòng điện đầu ra - được gắn tên là "Collector current" ở sơ đồ trên - bằng cách áp lên một điện áp để vượt qua một rào cản để dòng điện tích chảy. Những thay đổi nhỏ của dòng điện đầu vào, gọi là "emitter current", sẽ điều chế rào cản này, do đó điều khiển dòng điện đầu ra bóng bán dẫn tiếp giáp lưỡng cực đã đạt được việc khuếch đại bằng cách sử dụng cùng những nguyên tắc ấy, chỉ khác là hai ranh giới trong vật liệu bán dẫn, gọi là các vùng tiếp giáp, thay vì chỉ một. Như với bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, điện áp được áp lên sẽ vượt qua một rào cản và cho phép dòng điện đi qua, được điều chế bởi một dòng điện đầu vào nhỏ hơn. Cụ thể, các vùng tiếp giáp của vật liệu bán dẫn sẽ được bao bọc bởi các vùng nghèo, qua đó các hạt mang điện tích sẽ khuếch tán dưới tác động của trường điện. CHRIS PHILPO
BJT chắc chắn và đáng tin cậy hơn bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, và những đặc điểm ấy đã tạo nên sự tính ưu việt của sản phẩm, nhưng phải mất một thời gian thì người ta mới công nhận. BJT là công nghệ được sử dụng để tạo ra các mạch tích hợp, từ những mạch đầu tiên đầu thập niên 1960 cho đến cuối thập niên 1970 khi các bóng bán dẫn hiệu-ứng-trường oxit-kim-loại-và-vật-liệu-bán-dẫn (MOSFET) kế tục. Thực ra, chính những bóng bán dẫn hiệu ứng trường này, đầu tiên là bóng bán dẫn hiệu-ứng-trường tiếp-giáp, sau đó là MOSFET sau rốt đã hiện thực hoá giấc mơ hàng thập kỷ về một thiết bị bán dẫn ba đầu sẽ hoạt động dựa trên hiệu ứng trường - tham vọng ban đầu của Shockley. thập niên 1950 hãng AT&T và những công ty khác đang vật lộn để đưa ra những cách thiết thực và hiệu quả để sản xuất BJT mới. Đích thân Shockley đã tiếp tục đưa silic vào Thung lũng Silicon, chuyển đến Palo Alto và năm 1956 đã khởi nghiệp một công ty tiên phong chuyển đổi từ germani sang silic làm chất bán dẫn điện tử được lựa chọn. Nhân viên từ công ty của Shockley sẽ tiếp tục sáng lập Fairchild Semiconductor (ảnh dưới) và sau đó là Intel. sau khi mất công ty vì công tác quản lý tồi tệ của mình, Shockley đảm nhiệm chức giáo sư tại Stanford và bắt đầu xuất bản các lý thuyết vô căn cứ và rối trí về chủng tộc, di truyền học và trí thông minh. Năm 1951 Bardeen rời Bell Labs để nhận chức giáo sư tại Đại học Illinois ở Urbana-Champaign, nơi ông đã giành giải Nobel vật lý thứ hai, cho lý thuyết siêu dẫn. (Bardeen là người duy nhất giành được hai giải Nobel vật lý.) Brattain ở lại Bell Labs cho đến năm 1967 sang giảng dạy tại Đại học Whitman ở Walla Walla, Washington. năm 1989 Shockley mất, bị coi là một kẻ lạc loài rất hiếm bạn bè. Phát minh bóng bán dẫn của Shockley sẽ thay đổi thế giới, mặc dù cuối năm 1953 viễn cảnh BJT vẫn chưa rõ ràng. Năm 1989 Donald G. Fink (ảnh trên) người sẽ giúp thành lập IEEE một thập kỷ sau đó, đã trả lời phỏng vấn, "liệu bóng bán dẫn là một thiếu niên mặt mụn trứng cá, hiện nay vụng về, nhưng triển vọng hứa hẹn trong tương lai? Hay bóng bán dẫn đã trưởng thành, đầy uể oải, bị vây quanh bởi những nỗi thất vọng? ”
Glenn Zorpette ngày 20 tháng 11 năm 2022 năm 1955 AT&T công bố bức ảnh cho thấy (từ trái sang) một bóng bán dẫn quang, một bóng bán dẫn tiếp-giáp và một bóng bán dẫn tiếp xúc điểm.
ỐNG CHÂN KHÔNG TRI-ỐP chưa đầy 20 tuổi khi các nhà vật lý bắt đầu cố gắng tạo ra sản phẩm kế nhiệm, đây là ván đầu tư rất lớn. Ống ba cực đã không chỉ hiện thực hoá điện thoại đường dài và âm thanh phim, nó còn thúc đẩy toàn bộ doanh nghiệp phát thanh thương mại, một ngành công nghiệp trị giá hơn một tỷ đô la năm 1929. Nhưng các ống chân không rất ngốn điện và dễ vỡ. Nếu có thể tìm thấy một giải pháp thay thế chắc chắn, đáng tin cậy và hiệu quả hơn tri-ốp, phần thưởng sẽ là rất lớn. mục tiêu là một thiết bị ba-đầu-cuối được làm từ vật liệu bán dẫn sẽ chấp nhận tín hiệu dòng điện thấp đi vào đầu vào và sử dụng nó để kiểm soát dòng điện lớn hơn chảy giữa hai thiết bị đầu cuối khác, nhờ thế sẽ khuếch đại tín hiệu ban đầu. Nguyên lý cơ bản của một thiết bị như vậy sẽ là một hiệu ứng trường - khả năng của điện trường để điều chỉnh độ dẫn điện của vật liệu bán dẫn. Hiệu ứng trường đã được biết đến nhiều trong những ngày đó, nhờ các điốt và nghiên cứu liên quan đến vật liệu bán dẫn. hai thập kỷ, việc chế tạo một thiết bị như vậy đã gây ra thách thức không thể vượt qua cho một số nhà vật lý hàng đầu thế giới. Các bằng sáng chế cho các thiết bị giống như bóng bán dẫn đã được nộp bắt đầu từ năm 1925, nhưng trường hợp đầu tiên được ghi nhận về bóng bán dẫn đang hoạt động là thiết bị tiếp xúc điểm huyền thoại được chế tạo tại Phòng thí nghiệm Điện thoại Bell của công ty AT&T mùa thu năm 1947. dù bóng bán dẫn tiếp xúc điểm là phát minh quan trọng nhất thế kỷ 20, đáng ngạc nhiên là không có ghi nhận nào rõ ràng, đầy đủ và có thẩm quyền về cách thức hoạt động của sản phẩm. Các bóng bán dẫn tiếp-giáp và bóng bán dẫn phẳng hiện đại, mạnh mẽ hơn là nhờ vào vật lý trong một cục linh kiện bán dẫn, thay vì các hiệu ứng bề mặt đã được khai thác trong bóng bán dẫn đầu tiên. Và khá ít nỗ lực nghiên cứu đã được chú ý đến cho khác biệt này. bức ảnh cắt của một bóng bán dẫn điểm tiếp xúc, có thể nhìn thấy hai dây dẫn mỏng; chúng kết nối với các điểm tiếp xúc với một phiến gecmani nhỏ. Một trong những điểm này là bộ phát và điểm còn lại là bộ thu. Điểm tiếp xúc thứ ba, cực gốc, được gắn vào mặt sau của gecmani
sản phẩm là một tập hợp trông vô duyên gồm gecmani, nhựa polystyren và lá vàng, tất cả đều được phủ lên bởi một lò xo nguệch ngoẹo. Các nhà phát minh là lý thuyết gia John Bardeen kiệm lời đến từ vùng Trung Tây, và nhà thực nghiệm lắm mồm và "hơi nóng tính" Walter Brattain đều đang làm việc dưới trướng William Shockley tháng 11 năm 1947 Bardeen và Brattain đã bị cản trở bởi một vấn đề đơn giản. Trong vật liệu bán dẫn germani họ đang sử dụng, một lớp electron bề mặt dường như đang chặn một trường điện được áp lên, ngăn nó không xuyên được vật liệu bán dẫn và điều chế được dòng điện. Không điều chế, không khuếch đại tín hiệu. cuối năm 1947 họ đạt được một giải pháp: hai mảnh lá vàng sẽ tách rời nhau vừa đủ xa, được đẩy nhẹ bởi một lò xo nguệch ngoẹo lên bề mặt của một phiến vật liệu gecmani nho nhỏ. sách vở và các ghi chép thông thường đã có xu hướng bỏ qua cơ chế của bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, chỉ giải thích cách hoạt động của các bóng bán dẫn hậu duệ gần đây. Thật vậy, ấn bản hiện tại của sách Nghệ thuật Điện tử tác giả Horowitz và Hill, được coi là sách giáo khoa của sinh viên điện và điện tử [EE electrical and electronics], không đề cập đến bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, bỏ qua sự tồn tại của nó bằng cách nói sai rằng bóng bán dẫn tiếp-giáp là một "phát minh đoạt giải Nobel năm 1947." trong khi thực tế thì bóng bán dẫn được phát minh năm 1947 là tiếp xúc điểm; bóng bán dẫn tiếp-giáp được phát minh bởi Shockley năm 1948 có lẽ lời giải thích toàn diện nhất về bóng bán dẫn tiếp xúc điểm là nằm trong bài giảng của John Bardeen cho giải Nobel ấy, được ông giảng dạy năm 1956. Mặc dù vậy, việc đọc bài giảng ấy sẽ mang lại cho độc giả cảm giác rằng chính những nhà phát minh có thể đã lảng tránh một vài chi tiết tinh tế. Thomas Misa, cựu giám đốc Viện Lịch sử Khoa học và Công nghệ Charles Babbage tại Đại học Minnesota, cho biết: "Rất nhiều người đã bối rối bởi bóng bán dẫn tiếp xúc điểm". năm 1957 giáo sư R. D. Middlebrook (ảnh dưới) kỹ thuật điện tại Caltech, người đã tiếp bước công việc tiên phong trong lĩnh vực điện tử điện lực, đã viết: "Do đặc điểm ba chiều của thiết bị, phân tích lý thuyết là khó; thực tế thì hoạt động bên trong vẫn chưa được hiểu hết." ngày nay, trải qua 75 năm lý thuyết bán dẫn, bài viết này sẽ thử phân tích: Bóng bán dẫn tiếp xúc điểm được chế tạo dựa trên một phiến gecmani loại-n cỡ-ngón-tay-cái, thuật ngữ loại-n ám chỉ rằng vật liệu mang điện tích âm [negative] tức là dư thừa các electron. phiến gecmani này đã được xử lý để tạo ra một lớp bề mặt rất mỏng loại-p, có nghĩa là nó dư thừa các điện tích dương. Những điện tích dương này được gọi là lỗ trống; thật ra là sự thiếu hụt cục bộ của các electron sẽ song hành với các nguyên tử của vật liệu bán dẫn, có thể coi như một hạt thực. một điện cực được nối đất sẽ được gắn vào đáy của phiến gecmani ấy, tạo ra phần đế [base] của bóng bán dẫn. Hai dải lá vàng chạm lên bề mặt sẽ tạo ra hai điện cực nữa, được gọi là bộ phát và bộ thu. xong thiết kế sản phẩm, khi hoạt động, một điện áp dương nhỏ - chưa đến một vôn - được áp lên bộ phát; và một điện áp âm lớn hơn - từ 4 đến 40 vôn - được áp lên bộ thu, tất cả là chênh lệch điện thế so với đế [base] nối đất. Ranh giới giữa lớp loại-p và phiến vật liệu loại-n đã tạo ra một tiếp giáp giống như tiếp giáp được tìm thấy trong đi-ốp: Về cơ bản, vùng tiếp giáp là một rào cản cho phép dòng điện chảy dễ dàng chỉ theo một hướng, về phía điện áp thấp hơn. Vì vậy, dòng điện có thể chảy từ bộ phát dương, vượt qua rào ngăn; trong khi không có dòng điện nào có thể chảy qua hàng rào ấy vào bộ thu. bóng bán dẫn tiếp xúc điểm Type-2 của công ty Western Electric là bóng bán dẫn đầu tiên được sản xuất hàng loạt, năm 1951 tại nhà máy của Western Electric ở Allentown, tiểu bang Pennsylvania. Năm 1960 khi bức ảnh này được chụp, nhà máy đã chuyển sang sản xuất bóng bán dẫn tiếp-giáp. (TRUNG TÂM LƯU TRỮ LỊCH SỬ AT&T)
đầu tiên, ta ngắt kết nối bộ thu và xem điều gì xảy ra với bộ phát. Bộ phát đưa các điện tích dương - các lỗ trống - vào lớp loại-p, và những lỗ trống sẽ di chuyển về phía đế [base] nhưng không lao thẳng về phía base. Lớp mỏng buộc các lỗ trống phải dàn ngang ra trong một đoạn đường nhất định, trước khi đi qua rào chắn vào phiến vật liệu loại-n. Giống như việc từ từ rót một lượng nhỏ bột mịn lên bề mặt nước. Sau rốt, bột sẽ chìm hết, nhưng mới đầu thì bột sẽ trải ra thành một cục vòng tròn. giờ ta kết nối bộ thu. Mặc dù bộ thu không thể tự hút được dòng điện qua hàng rào của điểm nối p-n, nhưng điện áp âm lớn và thù hình nhọn của bộ thu sẽ dẫn đến một trường điện tập trung sẽ xuyên qua gecmani. Bởi vì bộ thu rất gần với bộ phát và cũng có điện tích âm, bộ thu bắt đầu hút nhiều lỗ trống đang đi ra từ bộ phát. Dòng điện tích này sẽ khiến các lỗ trống sẽ tập trung gần hàng rào p-n ở bên dưới bộ thu. Mật độ lỗ trống sẽ làm giảm hiệu quả "sức mạnh" của rào cản, là thứ ngăn dòng điện chảy giữa bộ thu và đế. Vì hàng rào được hạ xuống, dòng điện bắt đầu chảy từ đế vào bộ thu - dòng điện lớn hơn nhiều so với dòng điện của bộ phát đang đưa vào bóng bán dẫn. sức mạnh dòng điện sẽ tuỳ vào sức mạnh của rào cản. Điện áp của bộ phát bị giảm hoặc tăng nhỏ sẽ khiến rào cản thay đổi lên và xuống, tương ứng. Cho nên những dao động rất nhỏ của dòng điện bộ phát sẽ điều khiển những thay đổi rất lớn tại bộ thu. (kỹ sư điện và điện tử sẽ nhận thấy rằng các chức năng của đế và bộ phát đã bị đảo ngược so với các chức năng trong các bóng bán dẫn sau này, đế, không phải bộ phát, điều khiển phản ứng của bóng bán dẫn) mặc dù dễ vỡ và không tinh tế, đây là một bộ khuếch đại bán dẫn, và thế hệ con cháu của nó sẽ thay đổi thế giới; ngày 16 tháng 12 năm 1947 Brattain nảy ra ý tưởng sử dụng một miếng nhựa dẻo polystyren hình tam giác, buộc một dải lá vàng, chỉ một khe nhỏ ngăn cách các tiếp điểm của bộ phát và bộ thu. Thiết kế đã giúp tăng điện năng lên mức đáng tin cậy, và hai người biết rằng họ đã thành công. Đêm ấy, đi chung xe công ty chở về nhà, Brattain nói với những người bạn đồng hành rằng anh vừa thực hiện "thí nghiệm quan trọng nhất mà tôi từng làm trong đời" và bắt họ thề giữ bí mật. Bardeen cũng không thể cưỡng lại việc khoe khoang, khi vợ Jane (ảnh dưới) chuẩn bị bữa tối hôm đó, Bardeen bảo vợ, "Hôm nay bọn anh đã phát hiện ra điều gì đó."; những đứa con của họ chạy khắp nhà bếp, vợ anh trả lời, "Thật tuyệt, anh yêu." sản phẩm là một bóng bán dẫn khá ọp ẹp. Sau đó, các nhà phát minh đã có ý tưởng dùng điện tạo thành bộ thu, bằng cách truyền các dòng điện lớn qua nó, trong khi sản xuất bóng bán dẫn. Kỹ thuật này cho phép họ có được các dòng điện lớn hơn một chút, mà không bị giới hạn quá bé bên trong lớp bề mặt. Tuy nhiên, ý tưởng mang tính hú hoạ. "Họ chỉ đơn giản là sẽ vứt bỏ sản phẩm nếu thử thấy không hoạt động," Misa nói. các bóng bán dẫn tiếp điểm đã được đưa vào sản xuất ở nhiều công ty, bản quyền của AT&T, và năm 1951 cả ở chi nhánh sản xuất Western Electric của chính AT&T. Sản phẩm được sử dụng trong máy trợ thính (ảnh trên), bộ dao động, thiết bị định tuyến điện thoại, trong một máy thu Tivi thử nghiệm được chế tạo tại RCA và trong Tradic là máy điện toán kỹ thuật số trên không đầu tiên, và các hệ thống khác. Bóng bán dẫn tiếp xúc điểm đã được sản xuất cho đến năm 1966, phần vì tốc độ vượt trội so với các lựa chọn thay thế. đội ngũ Bell Labs không phải nhóm duy nhất đã thành công theo đuổi bóng bán dẫn. Ở vùng Aulnay-sous-Bois ngoại ô phía đông bắc Paris, hai nhà vật lý người Đức, Herbert Mataré (ảnh trên) và Heinrich Welker (ảnh dưới) làm việc ở chi nhánh Westinghouse tại Pháp, cũng đang cố gắng chế tạo một bộ khuếch đại bán dẫn ba đầu. Họ đã bám theo những quan sát của Mataré đã thực hiện khi phát triển các bộ chỉnh lưu gecmani và silic cho quân đội Đức năm 1944. Tháng 6 năm 1948 hai người đã thành công tạo ra một bóng bán dẫn tiếp xúc điểm đáng tin cậy. hai người rất ngạc nhiên, một tuần sau đó, khi Bell Labs tiết lộ tin tức về bóng bán dẫn tại một cuộc họp báo ngày 30 tháng 6 năm 1948. Mặc dù được phát triển hoàn toàn độc lập, và đều bí mật, hai thiết bị ít nhiều giống hệt nhau. sếp William Shockley đã rất tức giận vì tên của anh không được vinh danh cùng với tên của Bardeen và Brattain trong đơn xin cấp bằng sáng chế ban đầu cho bóng bán dẫn. Shockley tin rằng Bardeen và Brattain đã áp dụng lý thuyết của Shockley về việc sử dụng các trường điện trong vật liệu bán dẫn vào thiết bị họ đang nghiên cứu, và đã không ghi nhận thoả đáng Shockley vào đăng ký sáng chế. Tuy nhiên, năm 1945 Shockley đã chế tạo một bóng bán dẫn dựa trên chính những lý thuyết đó, và nó đã không hoạt động. năm 1953 kỹ sư Gerald Herzog công ty RCA đã lãnh đạo đội ngũ thiết kế và chế tạo chiếc tivi "hoàn toàn là bóng bán dẫn" đầu tiên (nhưng vẫn có một ống tia âm cực). Sản phẩm trang bị những bóng bán dẫn tiếp xúc điểm của RCA sản xuất, bản quyền của Bell Labs. BẢO TÀNG BÓNG BÁN DẪN JERRY HERZOG LỊCH SỬ TRUYỀN MIỆNG
cuối tháng 12 chỉ hai tuần sau thành công ban đầu của bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, Shockley đến Chicago tham dự cuộc họp thường niên của Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ. Đêm giao thừa, ẩn náu trong phòng khách sạn và bị thôi thúc lẫn lộn giữa đố kỵ và phẫn nộ, Shockley bắt đầu thiết kế một bóng bán dẫn của riêng mình. Trong ba ngày, anh đã viết nguệch ngoạc 30 trang ghi chú. Cuối tháng, anh đã có thiết kế cơ bản cho cái sẽ được gọi là bóng bán dẫn tiếp giáp lưỡng cực [BJT bi-polar junction] cuối cùng sẽ thay thế bóng bán dẫn tiếp xúc điểm và ngự trị thị trường đến cuối thập niên 1970. nhờ những kiến thức nội bộ đã lượm lặt từ công trình của Bell Labs, năm 1948 RCA bắt đầu phát triển các bóng bán dẫn tiếp điểm của riêng hãng. Loạt sản phẩm có bảy chiếc được hiển thị ảnh trên - bốn trong số đó đã được lắp trong Tivi trang bị 22 bóng bán dẫn của RCA chế tạo thử nghiệm năm 1953. Bốn cái này là TA153 [hàng trên, thứ hai từ trái sang], TA165 [trên, ngoài cùng bên phải], TA156 [hàng dưới, giữa] và TA172 [dưới, phải]. BỘ SƯU TẬP BẢO TÀNG TRANSISTOR JONATHAN HOPPE
BJT dựa trên niềm tin của Shockley rằng các điện tích có thể, và nên, chảy qua các vật liệu bán dẫn to lớn thay vì đi qua một lớp mỏng trên bề mặt. Thiết bị bao gồm ba lớp vật liệu bán dẫn, giống như một chiếc bánh sandwich: một bộ phát, một đế ở giữa và một bộ thu. Chúng được pha tạp xen kẽ, vì vậy có hai phiên bản: n-type/p-type/n-type, được gọi là "NPN" và p-type/n-type/p-type, được gọi là "PNP." BJT cơ bản dựa trên các nguyên tắc giống như bóng bán dẫn tiếp điểm, nhưng sử dụng hai tiếp giáp p-n thay vì một. Khi được sử dụng như một bộ khuếch đại, một điện áp dương được áp dụng cho đế cho phép một dòng điện nhỏ chảy giữa nó và bộ phát, từ đó điều khiển một dòng điện lớn giữa bộ thu và bộ phát. ví dụ một thiết bị NPN. Đế là loại-p, tức là dư các lỗ trống. Nhưng đế rất mỏng và chỉ được pha tạp nhẹ, vì vậy có tương đối ít lỗ trống. Một phần nhỏ các electron chảy vào kết hợp với các lỗ này và bị trung hoà điện tích, trong khi phần lớn (hơn 97%) các electron tiếp tục chảy qua đế mỏng và vào bộ thu, tạo ra dòng điện mạnh. số ít electron đã kết hợp với các lỗ trống sẽ phải được rút ra từ đế, để duy trì bản chất loại-p của đế và dòng điện mạnh qua đế. Việc loại bỏ các electron "bị bắt" được thực hiện bởi một dòng điện tương đối nhỏ qua đế. Dòng điện nhỏ giọt ấy sẽ cho phép dòng điện mạnh hơn nhiều vào bộ thu, và sau đó ra khỏi bộ thu và vào mạch điện bộ thu. Thực tế thì, dòng điện nhỏ ở đế đang điều khiển mạch điện bộ thu. các trường điện sẽ có vai trò, nhưng không phải là điều chế dòng điện, thứ mà các lý thuyết gia ban đầu đã nghĩ rằng sẽ phải xảy ra để một thiết bị như vậy hoạt động. Đại ý là: Cả hai vùng tiếp giáp p-n trong BJT đều bị bao bọc bởi các vùng nghèo, nơi các electron và lỗ trống đã kết hợp với nhau cho nên có ít những hạt mang điện tích di động. Điện áp được áp lên các vùng tiếp giáp sẽ tạo ra trường điện ở từng tiếp giáp, đẩy các điện tích qua các vùng đó. Các trường điện này cho phép các electron chảy từ bộ phát, qua đế và vào bộ thu. trong BJT "những trường điện được áp lên sẽ ảnh hưởng đến mật độ hạt mang điện tích, nhưng vì hiệu ứng ấy là theo cấp số nhân, chỉ tốn một chút để tạo ra nhiều dòng điện khuếch tán", chủ tịch Ioannis John Kymissis (ảnh trên) khoa kỹ thuật điện của Đại học Columbia giải thích. bóng bán dẫn đầu tiên là một thiết kế được gọi là tiếp xúc điểm, vì có các tiếp điểm kim loại chạm vào bề mặt của vật liệu bán dẫn. Họ đã tăng cường dòng điện đầu ra - được gắn tên là "Collector current" ở sơ đồ trên - bằng cách áp lên một điện áp để vượt qua một rào cản để dòng điện tích chảy. Những thay đổi nhỏ của dòng điện đầu vào, gọi là "emitter current", sẽ điều chế rào cản này, do đó điều khiển dòng điện đầu ra bóng bán dẫn tiếp giáp lưỡng cực đã đạt được việc khuếch đại bằng cách sử dụng cùng những nguyên tắc ấy, chỉ khác là hai ranh giới trong vật liệu bán dẫn, gọi là các vùng tiếp giáp, thay vì chỉ một. Như với bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, điện áp được áp lên sẽ vượt qua một rào cản và cho phép dòng điện đi qua, được điều chế bởi một dòng điện đầu vào nhỏ hơn. Cụ thể, các vùng tiếp giáp của vật liệu bán dẫn sẽ được bao bọc bởi các vùng nghèo, qua đó các hạt mang điện tích sẽ khuếch tán dưới tác động của trường điện. CHRIS PHILPO
BJT chắc chắn và đáng tin cậy hơn bóng bán dẫn tiếp xúc điểm, và những đặc điểm ấy đã tạo nên sự tính ưu việt của sản phẩm, nhưng phải mất một thời gian thì người ta mới công nhận. BJT là công nghệ được sử dụng để tạo ra các mạch tích hợp, từ những mạch đầu tiên đầu thập niên 1960 cho đến cuối thập niên 1970 khi các bóng bán dẫn hiệu-ứng-trường oxit-kim-loại-và-vật-liệu-bán-dẫn (MOSFET) kế tục. Thực ra, chính những bóng bán dẫn hiệu ứng trường này, đầu tiên là bóng bán dẫn hiệu-ứng-trường tiếp-giáp, sau đó là MOSFET sau rốt đã hiện thực hoá giấc mơ hàng thập kỷ về một thiết bị bán dẫn ba đầu sẽ hoạt động dựa trên hiệu ứng trường - tham vọng ban đầu của Shockley. thập niên 1950 hãng AT&T và những công ty khác đang vật lộn để đưa ra những cách thiết thực và hiệu quả để sản xuất BJT mới. Đích thân Shockley đã tiếp tục đưa silic vào Thung lũng Silicon, chuyển đến Palo Alto và năm 1956 đã khởi nghiệp một công ty tiên phong chuyển đổi từ germani sang silic làm chất bán dẫn điện tử được lựa chọn. Nhân viên từ công ty của Shockley sẽ tiếp tục sáng lập Fairchild Semiconductor (ảnh dưới) và sau đó là Intel. sau khi mất công ty vì công tác quản lý tồi tệ của mình, Shockley đảm nhiệm chức giáo sư tại Stanford và bắt đầu xuất bản các lý thuyết vô căn cứ và rối trí về chủng tộc, di truyền học và trí thông minh. Năm 1951 Bardeen rời Bell Labs để nhận chức giáo sư tại Đại học Illinois ở Urbana-Champaign, nơi ông đã giành giải Nobel vật lý thứ hai, cho lý thuyết siêu dẫn. (Bardeen là người duy nhất giành được hai giải Nobel vật lý.) Brattain ở lại Bell Labs cho đến năm 1967 sang giảng dạy tại Đại học Whitman ở Walla Walla, Washington. năm 1989 Shockley mất, bị coi là một kẻ lạc loài rất hiếm bạn bè. Phát minh bóng bán dẫn của Shockley sẽ thay đổi thế giới, mặc dù cuối năm 1953 viễn cảnh BJT vẫn chưa rõ ràng. Năm 1989 Donald G. Fink (ảnh trên) người sẽ giúp thành lập IEEE một thập kỷ sau đó, đã trả lời phỏng vấn, "liệu bóng bán dẫn là một thiếu niên mặt mụn trứng cá, hiện nay vụng về, nhưng triển vọng hứa hẹn trong tương lai? Hay bóng bán dẫn đã trưởng thành, đầy uể oải, bị vây quanh bởi những nỗi thất vọng? ”
lửa Hy Lạp của đế quốc Đông La Mã
Minh Khôi thứ bảy, 03/06/2023 - 10:56
Vũ khí chết người mệnh danh "Ngọn lửa Hy Lạp" dường như bất chấp các định luật vật lý và khiến các nhà khoa học đau đầu trong suốt hàng thế kỷ một bản vẽ mô tả về vũ khí Ngọn lửa Hy Lạp (Ảnh: greekcitytimes)
"Ngọn lửa Hy Lạp" (Greek fire) là tên một loại vũ khí gây cháy, được đế quốc Đông La Mã (Byzantine) sử dụng bắt đầu từ năm 672 sau Công nguyên. Vũ khí này chủ yếu được sử dụng để đốt cháy tàu địch và quân thù trong những trận thủy chiến, phóng vào tàu địch một dạng hợp chất dễ cháy, nhưng lại khó bị nước dập tắt
trong suốt hàng thế kỷ, các nhà khoa học đã cố gắng giải mã bí ẩn liên quan tới vũ khí phóng lửa đáng sợ này, bao gồm thành phần và cách thức mà nó được sử dụng. Tuy nhiên mãi đến nay, chúng ta vẫn chưa thực sự biết nó là thứ gì, hay hoạt động ra sao theo một bản ghi chép từ khoảng giữa thế kỷ thứ 8, vũ khí này được mô tả như sau: "Các con tàu ném ra ngọn lửa dạng chất lỏng từ mọi phía, gồm mũi tàu, đuôi tàu và 2 bên. Những thuyền viên bị ngọn lửa thiêu đốt, không còn cách nào khác ngoài nhảy xuống biển. Những kẻ mặc giáp thì chết đuối, còn những người biết bơi thì bỏng nặng" Vũ khí này được sử dụng để đốt cháy kẻ địch trong các trận thủy chiến (Ảnh: iStock)
một tài liệu khác của quân đội La Mã mô tả vũ khí này trông tựa như những con rồng đang bơi trên biển, phun ra ngọn lửa rực rỡ, và phát ra tiếng ồn như tiếng sấm một số tài liệu đương đại xác nhận "Ngọn lửa Hy Lạp" thực ra tồn tại dưới dạng chất lỏng, được bắn ra từ một hệ thống ống dẫn nằm ở mũi của các con tàu với thiết kế đặc biệt hầu hết các học giả cho rằng hợp chất gây cháy tạo nên vũ khí đáng sợ bậc nhất thời Trung Cổ có thể bao gồm dầu mỏ thô, hoặc naphtha - một hỗn hợp hydrocarbon lỏng dễ cháy, với cơ chế hoạt động tựa như một loại bom napalm thời Trung Cổ một số giả định khác cho rằng công thức của vũ khí có thể gồm nhựa thông, mỡ động vật, hắc ín, lưu huỳnh, vôi, nhựa đường... Tuy nhiên, ngay cả với công nghệ ngày nay, chúng ta vẫn chưa thể tái hiện lại những nét đặc trưng của loại vũ khí cổ xưa này
Bí mật quốc gia được bảo vệ quá chặt chẽ?
các nhà sử học cho rằng sở dĩ "Ngọn lửa Hy Lạp" vẫn còn là một bí ẩn cho đến nay, là bởi Đế chế Byzantine đã bảo vệ nó quá nghiêm ngặt Alex Roland (ảnh dưới) giáo sư danh dự về Lịch sử tại Đại học Duke và là một chuyên gia về lịch sử quân sự thế giới cho rằng: "Ngọn lửa Hy Lạp được coi như vũ khí quốc gia của Đế chế Byzantine, và được giữ bí mật ở cấp độ cao nhất" "Chỉ có 2 gia đình nắm được thành phần hóa học chính xác của Ngọn lửa Hy Lạp", giáo sư Roland chia sẻ. "Thế nhưng ngay cả khi đã biết điều này, bạn cũng không thể tái hiện vũ khí nguy hiểm bậc nhất trong lịch sử, bởi nó là một hệ thống phức tạp" "Ngọn lửa Hy Lạp" là cơn ác mộng cho những kẻ dám đối đầu Đế chế Byzantine ở thời kỳ hoàng kim (Ảnh: Reddit)
đó là bởi có rất nhiều yếu tố quyết định nên thành công của thứ vũ khí này, bao gồm thiết kế con tàu, hệ thống chứa chất nổ, hệ thống bơm, hay cách đốt cháy chất lỏng để giữ an toàn cho con tàu...
"Người Hy Lạp đã làm rất tốt để vũ khí số 1 của họ không rơi vào tay kẻ địch. Bí quyết là không một ai biết tất cả về con tàu", GS. Roland nhận định. "Những kỹ sư chế tạo nên vũ khí dường như đều chỉ nắm được 1 phần nhỏ và rời rạc. Ngay cả khi họ ghi chép lại về kiến thức của mình, thì nó cũng hoàn toàn vô giá trị" ông mô tả việc này tựa như quy tắc "không nên bỏ trứng vào cùng một giỏ", mà chúng ta vẫn thường nhắc đến ngày nay trớ trêu thay, việc giữ bí mật quá hoàn hảo đối với "Ngọn lửa Hy Lạp" lại gián tiếp là một trong những lý do khiến Đế chế Byzantine sụp đổ, với việc vũ khí tối thượng của họ nhanh chóng bị thất truyền theo thời gian và không còn được sử dụng rộng rãi trong quân đội
Vũ khí chết người mệnh danh "Ngọn lửa Hy Lạp" dường như bất chấp các định luật vật lý và khiến các nhà khoa học đau đầu trong suốt hàng thế kỷ một bản vẽ mô tả về vũ khí Ngọn lửa Hy Lạp (Ảnh: greekcitytimes)
"Ngọn lửa Hy Lạp" (Greek fire) là tên một loại vũ khí gây cháy, được đế quốc Đông La Mã (Byzantine) sử dụng bắt đầu từ năm 672 sau Công nguyên. Vũ khí này chủ yếu được sử dụng để đốt cháy tàu địch và quân thù trong những trận thủy chiến, phóng vào tàu địch một dạng hợp chất dễ cháy, nhưng lại khó bị nước dập tắt
trong suốt hàng thế kỷ, các nhà khoa học đã cố gắng giải mã bí ẩn liên quan tới vũ khí phóng lửa đáng sợ này, bao gồm thành phần và cách thức mà nó được sử dụng. Tuy nhiên mãi đến nay, chúng ta vẫn chưa thực sự biết nó là thứ gì, hay hoạt động ra sao theo một bản ghi chép từ khoảng giữa thế kỷ thứ 8, vũ khí này được mô tả như sau: "Các con tàu ném ra ngọn lửa dạng chất lỏng từ mọi phía, gồm mũi tàu, đuôi tàu và 2 bên. Những thuyền viên bị ngọn lửa thiêu đốt, không còn cách nào khác ngoài nhảy xuống biển. Những kẻ mặc giáp thì chết đuối, còn những người biết bơi thì bỏng nặng" Vũ khí này được sử dụng để đốt cháy kẻ địch trong các trận thủy chiến (Ảnh: iStock)
một tài liệu khác của quân đội La Mã mô tả vũ khí này trông tựa như những con rồng đang bơi trên biển, phun ra ngọn lửa rực rỡ, và phát ra tiếng ồn như tiếng sấm một số tài liệu đương đại xác nhận "Ngọn lửa Hy Lạp" thực ra tồn tại dưới dạng chất lỏng, được bắn ra từ một hệ thống ống dẫn nằm ở mũi của các con tàu với thiết kế đặc biệt hầu hết các học giả cho rằng hợp chất gây cháy tạo nên vũ khí đáng sợ bậc nhất thời Trung Cổ có thể bao gồm dầu mỏ thô, hoặc naphtha - một hỗn hợp hydrocarbon lỏng dễ cháy, với cơ chế hoạt động tựa như một loại bom napalm thời Trung Cổ một số giả định khác cho rằng công thức của vũ khí có thể gồm nhựa thông, mỡ động vật, hắc ín, lưu huỳnh, vôi, nhựa đường... Tuy nhiên, ngay cả với công nghệ ngày nay, chúng ta vẫn chưa thể tái hiện lại những nét đặc trưng của loại vũ khí cổ xưa này
Bí mật quốc gia được bảo vệ quá chặt chẽ?
các nhà sử học cho rằng sở dĩ "Ngọn lửa Hy Lạp" vẫn còn là một bí ẩn cho đến nay, là bởi Đế chế Byzantine đã bảo vệ nó quá nghiêm ngặt Alex Roland (ảnh dưới) giáo sư danh dự về Lịch sử tại Đại học Duke và là một chuyên gia về lịch sử quân sự thế giới cho rằng: "Ngọn lửa Hy Lạp được coi như vũ khí quốc gia của Đế chế Byzantine, và được giữ bí mật ở cấp độ cao nhất" "Chỉ có 2 gia đình nắm được thành phần hóa học chính xác của Ngọn lửa Hy Lạp", giáo sư Roland chia sẻ. "Thế nhưng ngay cả khi đã biết điều này, bạn cũng không thể tái hiện vũ khí nguy hiểm bậc nhất trong lịch sử, bởi nó là một hệ thống phức tạp" "Ngọn lửa Hy Lạp" là cơn ác mộng cho những kẻ dám đối đầu Đế chế Byzantine ở thời kỳ hoàng kim (Ảnh: Reddit)
đó là bởi có rất nhiều yếu tố quyết định nên thành công của thứ vũ khí này, bao gồm thiết kế con tàu, hệ thống chứa chất nổ, hệ thống bơm, hay cách đốt cháy chất lỏng để giữ an toàn cho con tàu...
"Người Hy Lạp đã làm rất tốt để vũ khí số 1 của họ không rơi vào tay kẻ địch. Bí quyết là không một ai biết tất cả về con tàu", GS. Roland nhận định. "Những kỹ sư chế tạo nên vũ khí dường như đều chỉ nắm được 1 phần nhỏ và rời rạc. Ngay cả khi họ ghi chép lại về kiến thức của mình, thì nó cũng hoàn toàn vô giá trị" ông mô tả việc này tựa như quy tắc "không nên bỏ trứng vào cùng một giỏ", mà chúng ta vẫn thường nhắc đến ngày nay trớ trêu thay, việc giữ bí mật quá hoàn hảo đối với "Ngọn lửa Hy Lạp" lại gián tiếp là một trong những lý do khiến Đế chế Byzantine sụp đổ, với việc vũ khí tối thượng của họ nhanh chóng bị thất truyền theo thời gian và không còn được sử dụng rộng rãi trong quân đội
tập đoàn ô tô Zastava liên bang Nam Tư
thập niên 1950 nhà máy vũ trang nhỏ Zastava ở Nam Tư bắt đầu sản xuất ô tô, thuê làm 1 triệu nhân viên và sản xuất 19 vạn xe mỗi năm
Liên bang
liên bang Nam Tư có 6 nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa là Bosnia và Hercegovina, Croatia, Macedonia, Montenegro, Serbia 5a và tỉnh xã hội chủ nghĩa tự trị Kosovo 5b và tỉnh xã hội chủ nghĩa tự trị Vojvodina... và Slovenia
thủ đô Belgrade thuộc biên giới Serbia, có người mang cả 5 quốc tịch Serbia, Slovenia, Croatia, Montenegro và Macedonia; nói 3 thứ tiếng, Macedonia, Slovenia và Serb-Croat; tiếng Serb-Croat là ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ đa tâm với 4 dạng chuẩn có thể thông hiểu lẫn nhau
người Nam Slav theo 3 tôn giáo, Công giáo ở Slovenia và Croatia; chính thống giáo phương Đông ở Serbia, Montenegro và Macedonia; đạo Hồi bởi người Bosnia và dân tộc thiểu số Albania
năm 1991 Nam Tư rộng bằng Tây Đức nhưng dân số chỉ 23 triệu, chưa đến 40% đất là có thể canh tác, một nửa là đồi núi; khí hậu có từ đới alpine, khí hậu Địa Trung Hải, sa mạc, cho đến khí hậu mưa nhiều
miền bắc Nam Tư từng thuộc về đế quốc Áo-Hung trong khi miền nam Nam Tư thuộc về đế quốc Ottoman
Cộng sản
năm 1920 chính phủ hoàng gia đã ngăn cấm, khiến đảng cộng sản Nam Tư đi vào hoạt động bí mật; thế chiến 2 Đức xâm lược Nam Tư, đảng cộng sản Nam Tư nổi lên là nghĩa quân, dưới trướng lãnh tụ Marshal Josip Broz Tito (ảnh dưới) để lấy được ủng hộ của quần chúng, đảng cộng sản Nam Tư bác bỏ lý tưởng của chủ nghĩa Mác, hứa hẹn nhà nước tự trị địa phương cho các dân tộc [nationality]
năm 1945 chính phủ liên hiệp của Tito thắng cử 90% phiếu bầu, và Nam Tư trở thành quốc gia cộng sản
Kinh tế
thế chiến 2 đã giết hại 1.7 triệu người Nam Tư, tương đương 11% dân số trước chiến tranh; một phần tư dân số mất nhà cửa, hai phần năm sản lượng công nghiệp bị phá huỷ
năm 1948 Stalin và Tito bất hoà, Liên Xô dừng viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Tư; sau những nỗ lực hàn gắn quan hệ bị thất bại, Nam Tư công bố rằng có nhiều con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, và con đường của Nam Tư sẽ được xác định bởi công nhân, tự quản và quyền sở hữu xã hội
Nam Tư từ bỏ chủ nghĩa Stalin là tập thể hoá và đặt mục tiêu sản lượng, nhường quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, thông qua các hội đồng công nhân sẽ quản lý tài sản được phân phát cho
trên lý thuyết, các công ty Nam Tư sẽ giống như hợp tác xã, mặc dù họ không có quyền sở hữu công ty hay tài sản công ty; trên thực tế, nhà nước vẫn thực thi kiểm soát đáng kể lên công nghiệp và các doanh nghiệp tư nhân
năm 1952 những chính sách kinh tế mới trên đã bắt đầu được thực hiện; chính phủ Mỹ nhân cơ hội đã mở rộng cho vay và viện trợ, thúc giục chính phủ Nam Tư chuyển hướng, từ sản xuất công nghiêp nặng thời-Lênin như thép, nhà máy điện, lọc dầu... sang sản xuất hàng tiêu dùng như ô tô
Nhà máy ô tô
thập niên 1850 thành lập công ty Zastava dịch nghĩa đen là "cờ" là nhà máy pháo ở thành phố Kragujevac chỉ cách Belgrade 100 km; sau đó nhà máy sản xuất thêm súng bắn nhiều phát liền, hợp tác với người Đức và lần đầu sử dụng ở chiến tranh Serbo-Bulgaria
thập niên 1930 Zastava nhập khẩu và lắp ráp những bộ linh kiện xe tải quân sự, từ hãng xe Praga ở cộng hoà Séc và sau đó có cả Chevrolet
năm 1941 Đức ném bom Belgrade và gây thiệt hại cho nhà máy ô tô Zastava
năm 1948 Zastava thử khôi phục mảng kinh doanh quân sự, sản xuất súng trường và lựu đạn; nhưng chính phủ di dời những chương trình này đến vùng núi Bosnia, để bảo vệ chuỗi cung quân sự khỏi bị Liên Xô tấn công; năm 1949 rủi ro ấy là hiện hữu
96% công nhân nhà máy Zastava bỏ phiếu lựa chọn sản xuất ô tô dân sự
Ký hợp đồng
năm 1953 kỹ sư và cũng là cựu uỷ viên nhân dân Mijalko Todorovic Plavi là thân cận với Tito, đã gia nhập Bộ Tư Pháp liên bang [Federal Executive Council] căn bản quản lý chính quyền liên bang
ở Slovenia có một nhà máy xe tải khác
năm 1953 Zastava ký hợp đồng với hãng xe Mỹ Willies Overland để lắp ráp xe Jeeps; sau chỉ 163 chiếc xe Jeeps, hợp tác tan rã vì Willies yêu cầu chia hoa hồng cho mỗi chiếc Jeeps bán được, nhưng không đề nghị giúp đỡ thêm
tháng 8 năm 1953 Zastava và chính phủ công bố gọi thầu để tìm đối tác, bên thắng thầu sẽ được chuyển giao đầy đủ những quyền sản xuất ô tô chở khách được làm trong nước
tháng 11 năm 1953 Zastava chọn thầu hãng xe Fiat của Ý, bấy giờ đang cạnh tranh xe Mỹ ở thị trường nội địa và gặp khó trong việc nâng cấp sản phẩm; Fiat tìm kiếm thị phần ở những quốc gia "kém cơ giới hoá" [under-motorized] tức là mặc dù đã-hơi-phát-triển nhưng vẫn chưa phổ biến ô tô cá nhân
năm 1954 Nam Tư có 11290 ô tô, tương đương một ô tô trên mỗi 1500 người
hợp đồng đầu tiên, Fiat đề nghị chuyển giao Fiat 1400 và Fiat 1900 và một số xe tải, cùng với hỗ trợ kỹ thuật; Zastava chỉ cần trả 560 000 đôla, tương đương 6 triệu đôla ngày nay, dưới dạng mua sắm linh kiện
năm 1954 hợp đồng 10 năm được ký, cùng năm Nam Tư và Ý hoà giải tranh chấp biên giới Trieste đã có từ lâu
Lãnh đạo mới
thời điểm ký hợp đồng, lãnh đạo Zastava là chỉ huy xe tăng Voja Radic của nghĩa quân và là cựu chiến binh thế chiến 2
kỹ sư Prvoslav Rakovic đã lên thay làm tổng giám đốc viện Crvena Zastava, nghĩa là "cờ đỏ", tham vọng đưa công ty thành trung tâm ô tô cho các nước Hội đồng Tương trợ Kinh tế [COMECON], dẫn dắt một đội kỹ sư từ khắp châu Âu đi nghiên cứu các nhà máy ô tô và biên tập lại kiến thức vào một quyển sách
thập niên 1950 Prvoslav Raković thuyết phục được Fiat chuyển giao chiếc Fiat 600 và đầu tư hàng triệu đôla xây dựng một nhà máy; bất chấp phản đối của nhiều phe phái bên trong chính quyền cộng sản Nam Tư coi dự án là phù phiếm và lãng phí, nên chính quyền không tài trợ
Ô tô đầu tiên
năm 1962 nhà máy mới đi vào hoạt động, sản phẩm đầu tiên là loạt Zastava 750 biệt danh Fića dựa trên mẫu xe Fiat 600 với biệt danh lấy từ một tranh biếm hoạ được đăng trên báo Nam Tư bấy giờ
từ năm 1955 đến 1985 nhà máy sản xuất 32000 xe bốn chỗ mỗi năm, mặc dù sản lượng tối đa có thể làm 82000 chiếc mỗi năm
công ty cũng sản xuất xe tải vượt-địa-hình Zastava AR-51 dựa theo chiếc Fiat Campagnola đã sản xuất được 20 năm rồi
Hàng rởm?
hưởng lợi nhờ thu nhập thực tăng, những khoản vay chính phủ, thuế nhập khẩu ô tô cao... loạt xe Zastava đã bán chạy
năm 1961 một du khách Tiệp Khắc ở triển lãm đã chê bai xe Zastava chất lượng kém hơn cả xe Đông Âu
Zastava đổ lỗi cho chuỗi cung, vì Zastava sản xuất rất ít linh kiện; làm theo chỉ đạo chính trị của đồng chí và đoàn kết, Zastava mua linh kiện từ chuỗi cung trên khắp Nam Tư, bất chấp khoảng cách xa xôi đến nhà máy chính ở Kragujevac
linh kiện được lấy từ nơi xa xôi như ở tận thành phố Kranj ở Slovenia cách đấy gần 700 km, nhưng ấy cũng là mối quan hệ độc hại; ban giám đốc Zastava thường bóc lột chuỗi cung, trả trễ và yêu cầu giá rẻ hơn, dẫn đến thù hằn và thậm chí giảm chất lượng linh kiện
năm 1966 đến 70% mất mát sản lượng, chiếm 60% tổng sản lượng, được quy lý do cho những vấn đề cụ thể của nhà máy; thường xuyên hư hỏng thiết bị, thiếu kỷ luật lao động - bỏ việc, ca làm việc bắt đầu trễ và kết thúc sớm, thường xuyên nghỉ hút thuốc
ngày nay, thiếu kỷ luật được coi là nhược điểm của hệ thống kinh tế tự quản dựa trên hội đồng công nhân [worker council]
Xuất khẩu
thập niên 1950 và 1960 kinh tế Nam Tư tăng trưởng và công nghiệp hoá, chủ yếu nhờ nhập khẩu công nghệ; làm tăng thâm hụt thương mại
năm 1969 Nam Tư nợ nước ngoài 2 tỷ đôla, cùng thâm hụt thương mại đã rút cạn dự trữ ngoại hối quốc gia
năm 1969 chính phủ Nam Tư khuyến khích những hoạt động thu hút ngoại hối, với 10.6 triệu người Nam Tư xuất khẩu lao động, gửi về hàng triệu đôla kiều hối
đầu thập niên 1970 thâm hụt thương mại đã hơn 1 tỷ đôla mỗi năm, các công ty Nam Tư được lệnh tăng cường xuất khẩu
năm 1971 Zastava trình làng chiếc Zastava 101 bán chạy trong nước, nhưng khách hàng không thích, tên xe là 'stojedan' nghĩa là 101 nhưng bị các tài xế chế nhạo là 'stojedin' nghĩa là "100 vấn đề"
Zastava 101 được xuất khẩu đến Ấn Độ và Ai Cập, công ty cũng ký hợp đồng xuất khẩu bộ linh kiện đến nhiều nước COMECON, như Ba Lan, đều giúp giảm chi phí và tạo được doanh số; xe Zastava 101 được sản xuất đến năm 2008
Giảm năng suất
thập niên 1970 khủng hoảng dầu mỏ đã ảnh hưởng tài chính Zastava, đã đánh động chính phủ; ban giám đốc công ty và chức sắc chính quyền đã tranh cãi về đường hướng và mục tiêu của Zastava
năm 1974 sa thải Prvoslav Rakovic, thay thế bởi chính khách Milenko Bojanic lên tái cơ cấu công ty, thúc đẩy Zastava về những mục tiêu xã hội - động thái càng làm giảm năng suất lao động
năm 1979 Zastava tăng cường tuyển dụng nhân viên để tăng sản lượng ô tô, xuất xưởng kỷ lục 186000 xe với 5 vạn nhân viên; tỷ lệ xe trên nhân viên đã tiếp tục giảm trong 10 năm kế tiếp
cùng năm 1979 General Motors xuất xưởng 15 triệu rưỡi xe chỉ với 46 vạn nhân viên , trong khi Toyota có 49487 nhân viên làm ra 3.1 triệu xe
Yugo Koral
tiếp đó, Zastava trình làng mẫu hatchback Yugo kế nhiệm mẫu Fića cũ ngừng sản xuất năm 1985
năm 1978 thiết kế Yugo dựa trên mẫu Fiat 126 và 128 năm 1971 nhưng Zastava can thiệp sâu vào những cấu hình sản phẩm
Yugoslavia (Nam Tư) có nghĩa là "vùng đất của người Nam Slav" nhưng cái tên xe Yugo không liên quan; tên ban đầu là Zastava 102 không thể sử dụng ở Tây Âu vì hãng Peugeot đăng ký thương hiệu quyền sử dụng số có 3 chữ số với chữ số 0 ở giữa để đặt tên xe
đổi tên Yugo, phát âm J, nhắc đến một cơn gió ẩm phía Nam thổi qua biển Adriatic; nếu viết chữ cái J thì sẽ liên tưởng đến "nước vắt" [juice] trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, cho nên họ sử dụng chữ cái Y; mẫu ô tô Yugo 45 là nhắc đến động cơ 45 mã lực
năm 1980 Tito mất vì bệnh tim, giữa khủng hoảng dầu khí và suy thoái kinh tế thế giới
năm 1980 chiếc Yugo 45 đi vào sản xuất hàng loạt, được xuất sang nhiều nước Tây Âu như Bỉ và Hà Lan
năm 1983 chiếc Yugo 45 mở bán ở vương quốc Anh với giá 4600 đôla tương đương 14500 đôla hôm nay
nhà nhập khẩu ô tô Malcolm Bricklin chú ý đến Yugo 45, trước đó ông phát tài với việc kinh doanh bán lẻ phần cứng và đã chuyển sang nhập khẩu ô tô, sáng lập Subaru ở Mỹ năm 1968
năm 1984 đội ngũ Bricklin đến Belgrade đàm phán với Zastava, nhân viên đã chê chiếc Yugo là thô sơ và rởm; chuyến thăm nhà máy đã phát hiện những lớp dầu mỡ dày trên tường, linh kiện hư hỏng được đưa vào ô tô thành phẩm, và không ai thấy được những quy định an toàn thông-thường [common-sense]
nhưng Bricklin được thuyết phục bởi lương công nhân: công nhân ô tô Hàn Quốc được trả 3 đôla mỗi giờ, Nhật Bản 8 đôla và Mỹ 20 đôla; trong khi công nhân Nam Tư ở nhà máy Zastava được trả 7 xu mỗi giờ
các nghị sĩ quốc hội Mỹ sau này cáo buộc công ty Zastava sử dụng lao động nô lệ, đội ngũ Bricklin đưa ra danh sách 600 thích ứng sản phẩm cho thị trường Mỹ, từ sơn thân xe, đến cái chắn gió, đến ốc vít
đầu năm 1985 Bricklin mở bán Yugo ở Mỹ với giá chỉ từ 4000 đôla, so với chiếc Chevrolet Sprint nhập khẩu giá 5151 đôla và chiếc Ford Escort giá 5620 đôla
tháng 8 năm 1985 lô hàng 4000 chiếc Yugo đầu tiên đến Mỹ, chỉ 3 năm sau doanh số lên đến 5 vạn chiếc
Đùa
câu hỏi: thứ gì đi kèm với sách hướng dẫn của tất cả chủ xe Yugo?
trả lời: vé xe buýt
câu hỏi: làm thế nào tăng gấp đôi giá trị của một chiếc Yugo?
trả lời: đổ đầy xăng
câu hỏi: làm thế nào để chiếc Yugo đi nhanh hơn?
trả lời: sử dụng xe tải cẩu
câu hỏi: làm thế nào để chiếc Yugo chạy tốc độ 60 dặm trên giờ?
trả lời: đẩy nó xuống vách đá
câu hỏi: điểm chung giữa một chiếc Yugo và một cái quạt trần là gì?
trả lời: có chung động cơ
câu hỏi: chiếc Yugo khác quả bóng golf ở điểm gì?
trả lời: bạn có thể đánh quả bóng golf đi xa 200 mã [yard]
Thoái trào
hơn 300 đại lý bán ô tô khắp nước Mỹ đã nhập bán Yugo
tháng 1 năm 1989 doanh nghiệp Bricklin thành lập để bán Yugo đã nộp đơn phá sản
năm 1992 NATO cấm vận Nam Tư, chiếc Yugo dừng bán, sau khi đã bán được 141142 xe Zastava không hồi vốn được khoản đầu tư lớn cho việc phát triển sản phẩm và sản xuất, chiếc Yugo và những chương trình Yugo Florida đã khiến công ty lỗ 400 triệu đôla; tính thêm lạm phát, nghiên cứu sinh Michael Palairet ước tính Zastava lỗ tổng cộng 1 tỷ đôla cho 2 dự án
hầu hết hàng xuất khẩu Nam Tư đã có giá bán nước ngoài thấp hơn giá bán trong nước, cho thấy công ty chuyển đổi hàng nhập khẩu đắt đỏ thành hàng xuất khẩu giá rẻ
năm 1992 Nam Tư thời kỳ hậu Tito đã vất vả giữ nước, Nam Tư tan rã thành các nước cộng hoà
đầu thập niên 1992 Zastava trao tặng một chiếc xe tải van miễn phí cho nhân viên nghỉ việc
Nam Tư tan rã cũng ảnh hưởng xấu đến chuỗi cung phân phối [distributed supply chain] của Zastava và làm công ty mất đi thị trường Croatia đã tách khỏi Serbia sau một cuộc chiến
năm 1999 NATO ném bom nhà máy Zastava vì tin rằng nhà máy sản xuất vũ trang, nhưng nhà máy vũ trang thực sự của Zastava chịu ít thiệt hại
mất hàng triệu đôla sửa chữa, và đặt hàng tá nhà cung cấp của Zastava vào rủi ro phá sản, công ty và chính quyền đã đặt nỗ lực tài chính vào tái thiết, do đó không có sức phát triển sản phẩm mới
Kết
năm 2008 chính phủ bán 70% cổ phần, cùng với nhà máy cho Fiat, muốn thu hút đầu tư nước ngoài, theo chân Slovakia khi hãng KIA năm 2004 xây dựng nhà máy ở Slovakia
năm 2008 Zastava báo cáo vẫn bán được một nghìn xe mỗi tháng, chạy nhất là Yugo; thương vụ sáp nhập Fiat đã chấm dứt cái tên thương hiệu xe Zastava, chiếc cuối xuất xưởng tháng 11 năm 2008 nhường thị trường ngách cho Fiat Punto
năm 2017 tập đoàn ô tô Zastava nộp đơn phá sản
Liên bang
liên bang Nam Tư có 6 nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa là Bosnia và Hercegovina, Croatia, Macedonia, Montenegro, Serbia 5a và tỉnh xã hội chủ nghĩa tự trị Kosovo 5b và tỉnh xã hội chủ nghĩa tự trị Vojvodina... và Slovenia
thủ đô Belgrade thuộc biên giới Serbia, có người mang cả 5 quốc tịch Serbia, Slovenia, Croatia, Montenegro và Macedonia; nói 3 thứ tiếng, Macedonia, Slovenia và Serb-Croat; tiếng Serb-Croat là ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ đa tâm với 4 dạng chuẩn có thể thông hiểu lẫn nhau
người Nam Slav theo 3 tôn giáo, Công giáo ở Slovenia và Croatia; chính thống giáo phương Đông ở Serbia, Montenegro và Macedonia; đạo Hồi bởi người Bosnia và dân tộc thiểu số Albania
năm 1991 Nam Tư rộng bằng Tây Đức nhưng dân số chỉ 23 triệu, chưa đến 40% đất là có thể canh tác, một nửa là đồi núi; khí hậu có từ đới alpine, khí hậu Địa Trung Hải, sa mạc, cho đến khí hậu mưa nhiều
miền bắc Nam Tư từng thuộc về đế quốc Áo-Hung trong khi miền nam Nam Tư thuộc về đế quốc Ottoman
Cộng sản
năm 1920 chính phủ hoàng gia đã ngăn cấm, khiến đảng cộng sản Nam Tư đi vào hoạt động bí mật; thế chiến 2 Đức xâm lược Nam Tư, đảng cộng sản Nam Tư nổi lên là nghĩa quân, dưới trướng lãnh tụ Marshal Josip Broz Tito (ảnh dưới) để lấy được ủng hộ của quần chúng, đảng cộng sản Nam Tư bác bỏ lý tưởng của chủ nghĩa Mác, hứa hẹn nhà nước tự trị địa phương cho các dân tộc [nationality]
năm 1945 chính phủ liên hiệp của Tito thắng cử 90% phiếu bầu, và Nam Tư trở thành quốc gia cộng sản
Kinh tế
thế chiến 2 đã giết hại 1.7 triệu người Nam Tư, tương đương 11% dân số trước chiến tranh; một phần tư dân số mất nhà cửa, hai phần năm sản lượng công nghiệp bị phá huỷ
năm 1948 Stalin và Tito bất hoà, Liên Xô dừng viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Tư; sau những nỗ lực hàn gắn quan hệ bị thất bại, Nam Tư công bố rằng có nhiều con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, và con đường của Nam Tư sẽ được xác định bởi công nhân, tự quản và quyền sở hữu xã hội
Nam Tư từ bỏ chủ nghĩa Stalin là tập thể hoá và đặt mục tiêu sản lượng, nhường quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, thông qua các hội đồng công nhân sẽ quản lý tài sản được phân phát cho
trên lý thuyết, các công ty Nam Tư sẽ giống như hợp tác xã, mặc dù họ không có quyền sở hữu công ty hay tài sản công ty; trên thực tế, nhà nước vẫn thực thi kiểm soát đáng kể lên công nghiệp và các doanh nghiệp tư nhân
năm 1952 những chính sách kinh tế mới trên đã bắt đầu được thực hiện; chính phủ Mỹ nhân cơ hội đã mở rộng cho vay và viện trợ, thúc giục chính phủ Nam Tư chuyển hướng, từ sản xuất công nghiêp nặng thời-Lênin như thép, nhà máy điện, lọc dầu... sang sản xuất hàng tiêu dùng như ô tô
Nhà máy ô tô
thập niên 1850 thành lập công ty Zastava dịch nghĩa đen là "cờ" là nhà máy pháo ở thành phố Kragujevac chỉ cách Belgrade 100 km; sau đó nhà máy sản xuất thêm súng bắn nhiều phát liền, hợp tác với người Đức và lần đầu sử dụng ở chiến tranh Serbo-Bulgaria
thập niên 1930 Zastava nhập khẩu và lắp ráp những bộ linh kiện xe tải quân sự, từ hãng xe Praga ở cộng hoà Séc và sau đó có cả Chevrolet
năm 1941 Đức ném bom Belgrade và gây thiệt hại cho nhà máy ô tô Zastava
năm 1948 Zastava thử khôi phục mảng kinh doanh quân sự, sản xuất súng trường và lựu đạn; nhưng chính phủ di dời những chương trình này đến vùng núi Bosnia, để bảo vệ chuỗi cung quân sự khỏi bị Liên Xô tấn công; năm 1949 rủi ro ấy là hiện hữu
96% công nhân nhà máy Zastava bỏ phiếu lựa chọn sản xuất ô tô dân sự
Ký hợp đồng
năm 1953 kỹ sư và cũng là cựu uỷ viên nhân dân Mijalko Todorovic Plavi là thân cận với Tito, đã gia nhập Bộ Tư Pháp liên bang [Federal Executive Council] căn bản quản lý chính quyền liên bang
ở Slovenia có một nhà máy xe tải khác
năm 1953 Zastava ký hợp đồng với hãng xe Mỹ Willies Overland để lắp ráp xe Jeeps; sau chỉ 163 chiếc xe Jeeps, hợp tác tan rã vì Willies yêu cầu chia hoa hồng cho mỗi chiếc Jeeps bán được, nhưng không đề nghị giúp đỡ thêm
tháng 8 năm 1953 Zastava và chính phủ công bố gọi thầu để tìm đối tác, bên thắng thầu sẽ được chuyển giao đầy đủ những quyền sản xuất ô tô chở khách được làm trong nước
tháng 11 năm 1953 Zastava chọn thầu hãng xe Fiat của Ý, bấy giờ đang cạnh tranh xe Mỹ ở thị trường nội địa và gặp khó trong việc nâng cấp sản phẩm; Fiat tìm kiếm thị phần ở những quốc gia "kém cơ giới hoá" [under-motorized] tức là mặc dù đã-hơi-phát-triển nhưng vẫn chưa phổ biến ô tô cá nhân
năm 1954 Nam Tư có 11290 ô tô, tương đương một ô tô trên mỗi 1500 người
hợp đồng đầu tiên, Fiat đề nghị chuyển giao Fiat 1400 và Fiat 1900 và một số xe tải, cùng với hỗ trợ kỹ thuật; Zastava chỉ cần trả 560 000 đôla, tương đương 6 triệu đôla ngày nay, dưới dạng mua sắm linh kiện
năm 1954 hợp đồng 10 năm được ký, cùng năm Nam Tư và Ý hoà giải tranh chấp biên giới Trieste đã có từ lâu
Lãnh đạo mới
thời điểm ký hợp đồng, lãnh đạo Zastava là chỉ huy xe tăng Voja Radic của nghĩa quân và là cựu chiến binh thế chiến 2
kỹ sư Prvoslav Rakovic đã lên thay làm tổng giám đốc viện Crvena Zastava, nghĩa là "cờ đỏ", tham vọng đưa công ty thành trung tâm ô tô cho các nước Hội đồng Tương trợ Kinh tế [COMECON], dẫn dắt một đội kỹ sư từ khắp châu Âu đi nghiên cứu các nhà máy ô tô và biên tập lại kiến thức vào một quyển sách
thập niên 1950 Prvoslav Raković thuyết phục được Fiat chuyển giao chiếc Fiat 600 và đầu tư hàng triệu đôla xây dựng một nhà máy; bất chấp phản đối của nhiều phe phái bên trong chính quyền cộng sản Nam Tư coi dự án là phù phiếm và lãng phí, nên chính quyền không tài trợ
Ô tô đầu tiên
năm 1962 nhà máy mới đi vào hoạt động, sản phẩm đầu tiên là loạt Zastava 750 biệt danh Fića dựa trên mẫu xe Fiat 600 với biệt danh lấy từ một tranh biếm hoạ được đăng trên báo Nam Tư bấy giờ
từ năm 1955 đến 1985 nhà máy sản xuất 32000 xe bốn chỗ mỗi năm, mặc dù sản lượng tối đa có thể làm 82000 chiếc mỗi năm
công ty cũng sản xuất xe tải vượt-địa-hình Zastava AR-51 dựa theo chiếc Fiat Campagnola đã sản xuất được 20 năm rồi
Hàng rởm?
hưởng lợi nhờ thu nhập thực tăng, những khoản vay chính phủ, thuế nhập khẩu ô tô cao... loạt xe Zastava đã bán chạy
năm 1961 một du khách Tiệp Khắc ở triển lãm đã chê bai xe Zastava chất lượng kém hơn cả xe Đông Âu
Zastava đổ lỗi cho chuỗi cung, vì Zastava sản xuất rất ít linh kiện; làm theo chỉ đạo chính trị của đồng chí và đoàn kết, Zastava mua linh kiện từ chuỗi cung trên khắp Nam Tư, bất chấp khoảng cách xa xôi đến nhà máy chính ở Kragujevac
linh kiện được lấy từ nơi xa xôi như ở tận thành phố Kranj ở Slovenia cách đấy gần 700 km, nhưng ấy cũng là mối quan hệ độc hại; ban giám đốc Zastava thường bóc lột chuỗi cung, trả trễ và yêu cầu giá rẻ hơn, dẫn đến thù hằn và thậm chí giảm chất lượng linh kiện
năm 1966 đến 70% mất mát sản lượng, chiếm 60% tổng sản lượng, được quy lý do cho những vấn đề cụ thể của nhà máy; thường xuyên hư hỏng thiết bị, thiếu kỷ luật lao động - bỏ việc, ca làm việc bắt đầu trễ và kết thúc sớm, thường xuyên nghỉ hút thuốc
ngày nay, thiếu kỷ luật được coi là nhược điểm của hệ thống kinh tế tự quản dựa trên hội đồng công nhân [worker council]
Xuất khẩu
thập niên 1950 và 1960 kinh tế Nam Tư tăng trưởng và công nghiệp hoá, chủ yếu nhờ nhập khẩu công nghệ; làm tăng thâm hụt thương mại
năm 1969 Nam Tư nợ nước ngoài 2 tỷ đôla, cùng thâm hụt thương mại đã rút cạn dự trữ ngoại hối quốc gia
năm 1969 chính phủ Nam Tư khuyến khích những hoạt động thu hút ngoại hối, với 10.6 triệu người Nam Tư xuất khẩu lao động, gửi về hàng triệu đôla kiều hối
đầu thập niên 1970 thâm hụt thương mại đã hơn 1 tỷ đôla mỗi năm, các công ty Nam Tư được lệnh tăng cường xuất khẩu
năm 1971 Zastava trình làng chiếc Zastava 101 bán chạy trong nước, nhưng khách hàng không thích, tên xe là 'stojedan' nghĩa là 101 nhưng bị các tài xế chế nhạo là 'stojedin' nghĩa là "100 vấn đề"
Zastava 101 được xuất khẩu đến Ấn Độ và Ai Cập, công ty cũng ký hợp đồng xuất khẩu bộ linh kiện đến nhiều nước COMECON, như Ba Lan, đều giúp giảm chi phí và tạo được doanh số; xe Zastava 101 được sản xuất đến năm 2008
Giảm năng suất
thập niên 1970 khủng hoảng dầu mỏ đã ảnh hưởng tài chính Zastava, đã đánh động chính phủ; ban giám đốc công ty và chức sắc chính quyền đã tranh cãi về đường hướng và mục tiêu của Zastava
năm 1974 sa thải Prvoslav Rakovic, thay thế bởi chính khách Milenko Bojanic lên tái cơ cấu công ty, thúc đẩy Zastava về những mục tiêu xã hội - động thái càng làm giảm năng suất lao động
năm 1979 Zastava tăng cường tuyển dụng nhân viên để tăng sản lượng ô tô, xuất xưởng kỷ lục 186000 xe với 5 vạn nhân viên; tỷ lệ xe trên nhân viên đã tiếp tục giảm trong 10 năm kế tiếp
cùng năm 1979 General Motors xuất xưởng 15 triệu rưỡi xe chỉ với 46 vạn nhân viên , trong khi Toyota có 49487 nhân viên làm ra 3.1 triệu xe
Yugo Koral
tiếp đó, Zastava trình làng mẫu hatchback Yugo kế nhiệm mẫu Fića cũ ngừng sản xuất năm 1985
năm 1978 thiết kế Yugo dựa trên mẫu Fiat 126 và 128 năm 1971 nhưng Zastava can thiệp sâu vào những cấu hình sản phẩm
Yugoslavia (Nam Tư) có nghĩa là "vùng đất của người Nam Slav" nhưng cái tên xe Yugo không liên quan; tên ban đầu là Zastava 102 không thể sử dụng ở Tây Âu vì hãng Peugeot đăng ký thương hiệu quyền sử dụng số có 3 chữ số với chữ số 0 ở giữa để đặt tên xe
đổi tên Yugo, phát âm J, nhắc đến một cơn gió ẩm phía Nam thổi qua biển Adriatic; nếu viết chữ cái J thì sẽ liên tưởng đến "nước vắt" [juice] trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, cho nên họ sử dụng chữ cái Y; mẫu ô tô Yugo 45 là nhắc đến động cơ 45 mã lực
năm 1980 Tito mất vì bệnh tim, giữa khủng hoảng dầu khí và suy thoái kinh tế thế giới
năm 1980 chiếc Yugo 45 đi vào sản xuất hàng loạt, được xuất sang nhiều nước Tây Âu như Bỉ và Hà Lan
năm 1983 chiếc Yugo 45 mở bán ở vương quốc Anh với giá 4600 đôla tương đương 14500 đôla hôm nay
nhà nhập khẩu ô tô Malcolm Bricklin chú ý đến Yugo 45, trước đó ông phát tài với việc kinh doanh bán lẻ phần cứng và đã chuyển sang nhập khẩu ô tô, sáng lập Subaru ở Mỹ năm 1968
năm 1984 đội ngũ Bricklin đến Belgrade đàm phán với Zastava, nhân viên đã chê chiếc Yugo là thô sơ và rởm; chuyến thăm nhà máy đã phát hiện những lớp dầu mỡ dày trên tường, linh kiện hư hỏng được đưa vào ô tô thành phẩm, và không ai thấy được những quy định an toàn thông-thường [common-sense]
nhưng Bricklin được thuyết phục bởi lương công nhân: công nhân ô tô Hàn Quốc được trả 3 đôla mỗi giờ, Nhật Bản 8 đôla và Mỹ 20 đôla; trong khi công nhân Nam Tư ở nhà máy Zastava được trả 7 xu mỗi giờ
các nghị sĩ quốc hội Mỹ sau này cáo buộc công ty Zastava sử dụng lao động nô lệ, đội ngũ Bricklin đưa ra danh sách 600 thích ứng sản phẩm cho thị trường Mỹ, từ sơn thân xe, đến cái chắn gió, đến ốc vít
đầu năm 1985 Bricklin mở bán Yugo ở Mỹ với giá chỉ từ 4000 đôla, so với chiếc Chevrolet Sprint nhập khẩu giá 5151 đôla và chiếc Ford Escort giá 5620 đôla
tháng 8 năm 1985 lô hàng 4000 chiếc Yugo đầu tiên đến Mỹ, chỉ 3 năm sau doanh số lên đến 5 vạn chiếc
Đùa
câu hỏi: thứ gì đi kèm với sách hướng dẫn của tất cả chủ xe Yugo?
trả lời: vé xe buýt
câu hỏi: làm thế nào tăng gấp đôi giá trị của một chiếc Yugo?
trả lời: đổ đầy xăng
câu hỏi: làm thế nào để chiếc Yugo đi nhanh hơn?
trả lời: sử dụng xe tải cẩu
câu hỏi: làm thế nào để chiếc Yugo chạy tốc độ 60 dặm trên giờ?
trả lời: đẩy nó xuống vách đá
câu hỏi: điểm chung giữa một chiếc Yugo và một cái quạt trần là gì?
trả lời: có chung động cơ
câu hỏi: chiếc Yugo khác quả bóng golf ở điểm gì?
trả lời: bạn có thể đánh quả bóng golf đi xa 200 mã [yard]
Thoái trào
hơn 300 đại lý bán ô tô khắp nước Mỹ đã nhập bán Yugo
tháng 1 năm 1989 doanh nghiệp Bricklin thành lập để bán Yugo đã nộp đơn phá sản
năm 1992 NATO cấm vận Nam Tư, chiếc Yugo dừng bán, sau khi đã bán được 141142 xe Zastava không hồi vốn được khoản đầu tư lớn cho việc phát triển sản phẩm và sản xuất, chiếc Yugo và những chương trình Yugo Florida đã khiến công ty lỗ 400 triệu đôla; tính thêm lạm phát, nghiên cứu sinh Michael Palairet ước tính Zastava lỗ tổng cộng 1 tỷ đôla cho 2 dự án
hầu hết hàng xuất khẩu Nam Tư đã có giá bán nước ngoài thấp hơn giá bán trong nước, cho thấy công ty chuyển đổi hàng nhập khẩu đắt đỏ thành hàng xuất khẩu giá rẻ
năm 1992 Nam Tư thời kỳ hậu Tito đã vất vả giữ nước, Nam Tư tan rã thành các nước cộng hoà
đầu thập niên 1992 Zastava trao tặng một chiếc xe tải van miễn phí cho nhân viên nghỉ việc
Nam Tư tan rã cũng ảnh hưởng xấu đến chuỗi cung phân phối [distributed supply chain] của Zastava và làm công ty mất đi thị trường Croatia đã tách khỏi Serbia sau một cuộc chiến
năm 1999 NATO ném bom nhà máy Zastava vì tin rằng nhà máy sản xuất vũ trang, nhưng nhà máy vũ trang thực sự của Zastava chịu ít thiệt hại
mất hàng triệu đôla sửa chữa, và đặt hàng tá nhà cung cấp của Zastava vào rủi ro phá sản, công ty và chính quyền đã đặt nỗ lực tài chính vào tái thiết, do đó không có sức phát triển sản phẩm mới
Kết
năm 2008 chính phủ bán 70% cổ phần, cùng với nhà máy cho Fiat, muốn thu hút đầu tư nước ngoài, theo chân Slovakia khi hãng KIA năm 2004 xây dựng nhà máy ở Slovakia
năm 2008 Zastava báo cáo vẫn bán được một nghìn xe mỗi tháng, chạy nhất là Yugo; thương vụ sáp nhập Fiat đã chấm dứt cái tên thương hiệu xe Zastava, chiếc cuối xuất xưởng tháng 11 năm 2008 nhường thị trường ngách cho Fiat Punto
năm 2017 tập đoàn ô tô Zastava nộp đơn phá sản
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

































































































































































































