Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

20 năm phát hiện nấm mốc nào dưới đất có thể làm thuốc kháng sinh

Nấm mốc làm thuốc kháng sinh
năm 1928 Alexander Fleming nhận thấy một mảng nấm mốc đã giết chết vi khuẩn ở trong một đĩa petri
từ lâu, người ta đã biết rằng nấm mốc có thể giết hại hoặc ức chế vi khuẩn
ví dụ: người Ai Cập cổ đại đã lấy bánh mì mốc để chữa bỏng
thế kỷ 19 Joseph Lister biết rằng nấm penicillium glaucum ức chế tăng trưởng của vi khuẩn
bác sĩ John Tyndall viết bài nghiên cứu về hiệu ứng tác động của nấm mốc ở trong những ống chứa vi khuẩn
đầu thế kỷ 20 nhà vật lý giành giải Nobel Paul Ehrlich phát hiện chế phẩm Salvarsan sản xuất từ thạch tín, chữa bệnh giang mai, bấy giờ 1/6 người Paris và 1/10 người Luân Đôn nhiễm
nhược điểm của Salvarsan là độc tính đủ mạnh để giết chết người bệnh luôn
sau khi Fleming nhận thấy nấm mốc trong đĩa petri, Fleming thử chiết xuất lấy nấm mốc này, nhưng thất bại
năm 1929 Fleming xuất bản công trình nghiên cứu trên
cuối thập niên 1930 đội ngũ khoa học Oxford là Howard Florey, Norman Heatly và Ernst Chain xác định và chiết xuất được thuốc kháng sinh (nấm mốc) và đem thử lên chuột
năm 1940 nhóm Oxford xuất bản công trình nghiên cứu
năm 1943 thuốc của nhóm Oxford được chào bán ra thị trường

Vi khuẩn đất
năm 1939 sinh viên Rene Dubos ở Viện Rockefeller chiết xuất thuốc kháng sinh tyrothricin kháng khuẩn những vết thương ngoài da
Rene Dubos tìm ra tyrothricin bằng cách "bón" một khuẩn lạc vi khuẩn [colony] vào một hỗn hợp đất, để tìm ra một hoá chất trong đất có thể giết chết vi khuẩn ấy
Selman Waksman là giáo sư Mỹ gốc Ukraine ngành vi sinh, trường đại học Rutgers, đã nghe về 2 phát minh penicillin và tyrothricin
trong một bài lịch sử lời nói, sinh viên Woodruff Boyd nhớ lại Selman Waksman nói với mình rằng: "tôi biết rằng loài sinh vật ưa thích của tôi, actinomyces sẽ hiệu quả hơn [penicillin]... bỏ hết những thứ cậu đang làm đi, bắt đầu chiết xuất một ít streptomyces xem xem liệu có thể tìm ra một thuốc kháng sinh tốt hơn penicillin không"
trong đất, lớp xạ khuẩn actinomyces có streptomyces là một chi vi khuẩn Gram dương, hiếu khí, bao gồm hàng trăm loài vi khuẩn
đội ngũ Selman Waksman thu thập hàng nghìn mẫu vi khuẩn đất, và nuôi cấy trên những đĩa agar, có cấy giống vi khuẩn
nhóm Selman Waksman tìm trên những đĩa này những điểm nổi lên hoạt động kháng sinh
năm 1940 nhóm Selman Waksman phát hiện ứng viên thuốc kháng sinh Actinomycin chữa được bệnh lao, nhưng vẫn quá độc hại để ứng dụng cho điều trị
mãi sau, người ta mới thấy Actinomycin có khả năng chữa ung thư, và một phiên bản Actinomycin đang được dùng cho phương pháp hoá trị
năm 1943 Selman Waksman và doanh nghiệp tài trợ Merck phát hiện Streptomycin chữa trị bệnh lao
sinh viên Albert Schatz là người thực hiện thí nghiệm phát hiện Streptomycin, sau này đã kiện đòi được ghi danh đồng-tác-giả và cổ phần tài chính trong những tiền phí bản quyền
tỷ lệ lớn thuộc về Quỹ, còn Selman Waksman nhận 20% tiền phí bản quyền, tương đương 4.5 triệu USD một năm nếu tính theo thời giá ngày nay
sau khi dàn xếp vụ kiện, tỷ lệ 20% được sửa thành: Selman Waksman nhận 10% phí bản quyền, Albert Schatz nhận 3% cộng với được ghi danh đồng-phát-hiện trên bằng sáng chế thuốc
Elizabeth Bugie Gregory độc lập xác nhận những kết quả thí nghiệm, nhận 0.2% phí bản quyền, và được ghi danh đồng-tác-giả trên giấy phép streptomycin đầu tiên
tỷ lệ tiền phí bản quyền còn lại đã được chia đều cho các thành viên khác của phòng thí nghiệm

Phương pháp luận
năm 1952 Selman Waksman nhận giải Nobel dược
trích dẫn đã ghi nhận: trong khi penicillin được khám phá một cách tình cờ, streptomycin được phát hiện nhờ một phương pháp có mục tiêu và có thể tăng quy mô
quỹ Nobel có viết: "trái ngược với penicillin được khám phá bởi giáo sư Fleming chủ yếu nhờ may mắn, chiết xuất streptomycin là kết quả của một nghiên cứu miệt mài dài-hạn có hệ thống được thực hiện bởi một nhóm nhân viên đông đảo"
streptomycin được tìm thấy làm 2 chủng vi khuẩn: chủng hiệu quả hơn trong việc sản xuất thuốc, đến từ họng gà, sinh viên Doris Jones Ralston lấy tăm bông phết lấy mẫu [swab] đem nuôi trước khi đưa Albert Schatz
Albert Schatz mất 3 tháng trong phòng thí nghiệm của Selman Waksman thực hiện cùng những thủ tục trên với tất cả (nhân viên phòng thí nghiệm) giống như với Doris Jones Ralston
chi streptomyces có 700 loài vi khuẩn, cung cấp 2/3 số thuốc kháng sinh sản-sinh-tự-nhiên ngày nay
thuở đầu, lý thuyết "Đại chiến" cho rằng đất có chứa hàng chục vạn vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo, nấm... một cuộc cạnh tranh nguồn lực: không gian, dinh dưỡng
thuyết "Đại chiến" cho rằng vi khuẩn đất đã tiến hoá những thuốc kháng sinh này để đánh bại các đối thủ trong cuộc canh tranh nguồn lực
sau này, nghiên cứu cho thấy rằng thuốc kháng sinh phục vụ nhiều mục đích
ví dụ, thuóc kháng sinh ở liều nhỏ được dùng làm những tín hiệu: ra dấu rằng khu vực đang thay đổi, rằng vi khuẩn lân cận cần phải chuẩn bị, hoặc ra dấu cho các đối thủ rằng khu vực cụ thể này đã bị chiếm đóng
ở tình huống căng thẳng, ví dụ một cuộc cạnh tranh chiếm lấy 1 chỗ ở một ngách dinh dưỡng địa phương trong đất, vi khuẩn sẽ sản xuất hàng loạt liều lượng kháng sinh, để giữ chỗ

Phát hiện thuốc
trong 20 năm, các doanh nghiệp dược đi tìm đất trên toàn cầu để sản xuất thuốc kháng sinh mới
đội ngũ Selman Waksman trường Rutgers quét hàng chục vạn vi sinh vật lấy từ những đất này
nhân viên đi công tác hoặc đi nghỉ ở nước ngoài đã được khuyến khích mang theo những túi đựng mẫu đất, để có thể lấy đất về
năm 1949 kháng sinh erythromycin lấy từ một mẫu đất Philippines
năm 1947 thuốc uống kháng sinh phổ-rộng chloramphenicol lấy từ một mẫu đất ở gần thành Caracas, Venezuela
tại Ý, doanh nghiệp Lepetit phát hiện nhóm thuốc kháng sinh rifamycin lấy từ một mẫu đất ở thành Saint-Raphael (Pháp) nơi nhân viên đi nghỉ dưỡng
năm 1952 một nhà truyền giáo Thiên Chúa lấy vancomycin từ một mẫu đất rừng Borneo ngoại ô Tengeng
nhiều thuốc kháng sinh đã được lấy từ đất sân sau của doanh nghiệp
ví dụ một nhân viên Pfizer chiết xuất oxytetracyclin từ một mẫu đất bên ngoài phòng thí nghiệm ở Terra Haute tiểu bang Indiana, thuốc được bán dưới cái tên Terramycin
sau khi lấy được mẫu, một chuỗi actinomycetes (xạ khuẩn) được trải xuống một đĩa petri; các doanh nghiệp dược đã tuyển dụng những nhà vi sinh vật đất, về nhìn xem actinomycetes ấy là loài gì
nhiều vi khuẩn và nấm sẽ được trải xuống đĩa petri theo một góc thích hợp với chuỗi xạ khuẩn [actinomycetes]
sau ít ngày, một kỹ thuật viên sẽ đánh giá đĩa petri xem có dấu hiệu của hoạt động kháng sinh (hay không): tăng trưởng của vi khuẩn có thể bị cản trở dưới một cách thức hoặc một hình thức nào đó
tỷ lệ trúng số độc đắc của những chương trình phát hiện thuốc như thế này là rất thấp
suốt 30 năm, tập đoàn Eli Lilly nghiên cứu một triệu chiết xuất [isolate] chỉ chào bán được 3 thuốc kháng sinh, trong đó có vancomycin
Pfizer nghiên cứu 10 vạn chiết xuất, chỉ terramycin được chào bán, còn lại bị trùng hoặc quá độc hại
trong 15 năm kể từ năm 1943, streptomyces sản xuất 1 thuốc 1 năm
cuối thập niên 1950 số thuốc mới phát hiện đã đạt đỉnh, sau đấy các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm thấy thuốc trùng lặp, bất chấp những nỗ lực ngoan cố
từ năm 1947 đến 1956 có 606 công trình nghiên cứu được xuất bản, công bố phát hiện thuốc kháng sinh, trong đó 163 bài viết trùng lặp
từ năm 1957 đến 1967 số bài viết báo cáo nghiên cứu trùng lặp đã lên đến 253, trong đó 1/4 những thuốc được phát hiện trước đấy đã được "phát hiện lại" ít nhất 1 lần
ví dụ streptothricin được sản xuất bởi 10% tất cả vi sinh vật đất, đã được "phát hiện lại" 19 lần
thập niên 1950 đã xuất hiện những vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh, nhất là ở các bệnn viện, nơi xuất hiện sớm và nhanh nhất, thúc đẩy bởi những vi sinh vật, ví dụ: tụ cầu vàng [staphylococcus aureus]
năm 1951 ở mỗi bệnh viện, có 4.8% ca bệnh kháng thuốc tetracyclin và aureomycin
năm 1953 tỷ lệ đã tăng đến 78%
tháng 9 năm 1952 một ca bệnh đã không xuất hiện những biến chủng kháng khuẩn erythromycin, chỉ 1 tháng sau đã xuất hiện những biến chủng kháng, và đến tháng 1 năm 1953 tất cả erythromycin đã bị kháng
năm 1953 các bác sĩ đã bắt đầu áp dụng những liệu pháp điều trị nhiều-thuốc

Nhật Bản
Hamao Umezawa là thế hệ thứ 4 của một gia đình truyền thống y dược
cuối Thế chiến 2, Hamao Umezawa dẫn dắt một nhóm nhà sinh vật, giúp Nhật Bản là quốc gia thứ 3 tự sản xuất penicillin
chuyển sang phát hiện thuốc, mới đầu Hamao Umezawa làm theo phương pháp của Selman Waksman là nhìn vào những xạ khuẩn [actinomycetes] sống trong đất
hiện tượng kháng thuốc - ví dụ streptomycin - bắt đầu phổ biến, Hamao Umezawa chuyển sang nhìn vào những mục tiêu để khắc phục tình trạng kháng thuốc này
nhờ vậy Hamao Umezawa phát hiện kanamycin mới đầu đã chữa được bệnh lao kháng-streptomycin
kanamycin là thuốc kháng sinh Nhật Bản đầu tiên được xuất khẩu, tiền phí bản quyền đã tài trợ những dự án ở Viện Hoá học Vi sinh
đầu thập niên 1970 khi những phương pháp của Selman Waksman hết hiệu nghiệm, Hamao Umezawa trang bị lại công cụ
nghiên cứu khả năng sống sót của kanamycin, Hamao Umezawa phát hiện rằng vi khuẩn này sản sinh 2 enzyme gián đoạn tính hiệu quả của thuốc
Hamao Umezawa tổng hợp một thuốc mới, hiệu quả giống kanamycin nhưng không có 2 enzyme trên, bằng cách loại bỏ một nhóm hydroxyl cụ thể là dibekacin
khi những vi khuẩn bắt đầu xuất hiện khả năng kháng dibekacin, Hamao Umezawa tổng hợp arbekacin sau khi gắn thêm một chuỗi bên vào dibekacin
suốt một sự nghiệp dài, Hamao Umezawa tạo ra 70 thuốc kháng sinh, và thấy rằng thuốc kháng sinh có thể ức chế tăng trưởng tế bào ung thư
Hamao Umezawa phát hiện 40 thuốc kháng sinh trị ung thư, trong đó có Bleomycin trị u lympho Hodgkin và ung thư tinh hoàn
điều trị u tinh hoàn, Bleomycin đóng góp 1 chân trong liệu pháp điều trị 3-hướng BEP [bleomycin, etoposide và cisplatin]
năm 1986 Hamao Umezawa mất

Bán tổng hợp
không có đất, các nhà hoá học như Hamao Umezawa tìm đến phương pháp bán-tổng-hợp: điều chỉnh hoặc cải tiến những phân tử đã biết, ngành gọi là "giàn giáo tế bào gốc" [scaffold]
căn bản, Hamao Umezawa lấy một phân tử thuốc kháng sinh tự nhiên, giản lược nó xuống còn phần lõi có tác dụng [effective core] rồi thêm những chuỗi bên mới
thành phẩm mới sẽ được quan sát những yếu tố, ví dụ: khả năng sinh học có cải thiện không, có tăng hiệu quả kháng kháng thuốc không, độc tính
ví dụ: thêm hydrogen vào streptomycin tạo ra đi-hydro streptomycin là một phiên bản bền vững hoá học hơn
bán-tổng-hợp là phương pháp cần thiết cho việc duy trì tính hiệu quả, khi khả năng kháng thuốc đã tiếp tục mở rộng
bán-tổng-hợp đã sửa penicillin thành cả một lớp thuốc mới, gọi là beta-lactam ngày nay chiếm 60% tổng số thuốc điều trị, và 65% thị phần thị trường 15 tỷ USD thuốc kháng sinh
tuy nhiên bán-tổng-hợp không giúp gì cho việc phát hiện những lớp thuốc mới, số lượng được chào bán mới đã chậm lại, phần nhiều đã được phát hiện trong 20 năm "kỷ nguyên vàng"

Đa dạng sinh học
môi trường đất rất hiệu quả trong việc sản sinh những thuốc kháng sinh mới bởi có mật độ vi sinh vật dày đặc, cạnh tranh thức ăn và nguồn lực
các nghiên cứu sinh đã khuyến nghị nhiều môi trường khác: bọt biển, động vật không xương sống, côn trùng, nhóm bệnh viêm da và viêm mạc Lichen, vi khuẩn đường ruột
thập niên 1980 có 20 doanh nghiệp dược làm việc phát hiện thuốc kháng sinh
ngày nay đã không còn động lực kinh tế của việc phát hiện thuốc kháng sinh mới, bởi vì thuốc đã rẻ, trong khi việc chào bán thuốc mới sẽ mất nhiều năm và nhiều triệu USD đầu tư
mỗi năm 2 triệu người Mỹ nhiễm bệnh kháng-thuốc-kháng-sinh trong đó 2 vạn người tử vong

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Vi nhựa phát tán xuống biển

thập niên 1950 nhựa trở thành một vật liệu phổ biến, với nhiều ưu điểm: kháng lửa, dẻo

Công nghiệp
thập niên 1930 bắt đầu sản xuất hàng loạt nhựa nhiệt dẻo PVC [polyvinyl chloride], PS [polystyrene] và nilon
cuối thế kỷ 18 xuất hiện nhựa PVC dưới dạng thuần tuý keo resin giống như thuỷ tinh
thập niên 1930 phát hiện những chất phụ gia "hoá dẻo" [plasticizer] biến PVC trở thành thứ vật liệu với tính bền, khả năng cách điện, khả năng kháng lửa
PVC được ứng dụng làm những lớp bọc bảo vệ [seal] bộ giảm xóc [absorber], những vật liệu lót [lining] bể [tank], rồi sau được làm những lớp phủ [coating] kháng lửa, áo mưa, rèm cửa
thập niên 1950 xuất hiện những bộ đồ ăn dùng-một-lần và túi nhựa, được làm bằng PS
năm 1955 tạp chí Life đăng lên trang nhất một bài báo với tựa đề "lối sống dùng-một-lần" ca ngợi một 'thời đại vàng' của việc tiết kiệm thời gian cho các bà nội chợ
năm 1950 thế giới sản xuất 1.5 triệu tấn nhựa
cuối thập niên 1950 sản lượng nhựa đã đạt 5 triệu tấn mỗi năm trên toàn cầu

Nhựa dưới biển
năm 1870 Jules Vern xuất bản tiểu thuyết "Hai vạn dặm dưới biển" có đoạn miêu tả những dòng nước biển đã đánh dạt lên bờ những đống [patch] rong biển và mảnh vụn xác tàu đắm
năm 1947 báo cáo nhìn thấy một con chim hải âu đã bị quấn trong một sợi dây dài 5 mét và khúc gỗ, nhưng không rõ sợi dây được làm bằng vật liệu gì
thập niên 1960 chương trình khảo sát CPR [continuous plankton recorder] cho thấy rác nhựa dưới biển
năm 1957 máy khảo sát CPR quấn phải những dây nilon [troll twine] ở bờ đông Iceland
năm 1965 máy CPR ghi nhận những túi nilon ở bờ biển Tây Bắc Iceland
cuối thế kỷ 20 ghi nhận hiện tượng chim biển đã ăn những món đồ nhựa, ví dụ nắp vỏ chai, cùng với đá núi lửa [pumice]
năm 1971 JB Buchanan ở phòng thí nghiệm Dove Marine, vương quốc Anh báo cáo những vi nhựa ở dưới đại dương
kiểm tra định kỳ những dị vật trôi nổi trong những mẫu nước biển ở miền nam Hạt Northumberland, JB Buchanan phát hiện những chất xơ tổng hợp, đủ màu đỏ, da cam, xanh dương... được tìm thấy ở tất cả các tầng độ sâu
JB Buchanan cho rằng những chất xơ tổng hợp này đã bị phát tán từ những lưới bắt cá, viện dẫn những tài liệu ghi nhận những lưới đánh cá được làm từ chất xơ tự nhiên, ví dụ manila (sợi thừng làm từ cây chuối, hoặc loại giấy bìa nâu) hoặc vải đay [jute]
JB Buchanan viết: "tuy nhiên, sợi tổng hợp đã gây ra một vấn đề nghiêm trọng hơn... bên cạnh việc tan vỡ cơ học, có vẻ như, sợi tổng hợp sẽ hình thành và tích luỹ một thành phần vật liệu nhẹ trong tổng thể những vật liệu trôi nổi của biển gần bờ"
năm 1971 Kenneth Smith và Edward J.Carpenter ở Viện hải dương học Woods Hole nghiên cứu những quần thể tảo mơ [sargassum] ở biển Sargasso
Edward J.Carpenter nhớ rằng đã kéo [tow] lưới Houston vớt lên những sinh vật dưới bề mặt đại dương, sau vài lượt đã phát hiện nhiều hạt nhựa nhỏ, đường kính 0.25 - 0.5 cm
những hạt nhựa này giòn, cho thấy những chất hoá dẻo [plasticizer] đã bị hao mòn đi mất, nhựa nhiệt dẻo đã không còn dẻo nữa
Edward J.Carpenter nhớ rằng đã bối rối vì biển Sargasso rất xa khỏi đất liền, chả nhẽ những hạt nhựa nhỏ này đến từ rác thải đô thị, thuyền cá, hay thuyền chở khách??
năm 1972 đội ngũ Edward J.Carpenter xuất bản báo cáo trên tạp chí Science, đoạn tóm tắt có viết: "sản lượng nhựa ngày càng tăng, cùng với những thói quen đổ rác hiện nay, sẽ dẫn đến những hạt này bị tích tụ thêm"
tờ báo New York Times đăng lại bài báo cáo, lưu ý thêm một số rủi ro: một là những nhựa này có thể phát tán PCB [polychlorinated biphenyl] là những tác nhân gây ung thư
Edward J.Carpenter nhớ lại rằng một số nhà khoa học ở Woods Hole sau đấy khuyên ông chuyên tâm vào lĩnh vực sinh học, và một thành viên của cộng đồng công nghiệp nhựa Michigan đã chỉ trích bài báo cáo của Edward J.Carpenter
ít lâu sau Edward J.Carpenter nghiên cứu sinh vật phù du và nước mát ở nhà máy điện hạt nhân, miền đông Connecticut
sau này Edward J.Carpenter nhớ lại: "tôi lấy những cái kẹp sản khoa [forcep] bóp một thứ mà tôi nghĩ là trứng cá, và nó đã rơi ra khỏi đĩa petri xuống bàn. Tôi phát hiện thấy đây rõ ràng là một cục PS, và có rất nhiều cục [sphere] như thế"
những cục [sphere] được xác định là những hột PS trôi nổi [polystyrene suspension bead]
"các nhà sản xuất nhựa đã sản xuất những viên nén, để bán cho những nhà đúc [fabricator] tạo hình thành phẩm" - Edward J.Carpenter nhớ lại - "trở về Woods Hole, tôi thả lưới bắt sinh vật phù du xuống một cầu kéo ở làng, để bắt sóng thuỷ triều. Thật ngạc nhiên, khi tôi nhấc đuôi con cá tuyết ra khỏi lưới, tôi đã thấy cũng những cục PS bám cạnh sinh vật phù du"
năm 1972 Edward J.Carpenter đăng báo cáo thứ 2 trên tờ Science lưu ý rằng cá sẽ nuốt và mắc nghẹn những hột nhựa này
thập niên 1970 càng ngày càng nhiều báo cáo cảnh báo những hạt nhựa nhỏ trong nước biển
năm 1973 cơ quan quản lý đại dương và khí quyển quốc gia NOAA đếm được 24000 dị vật nhựa, trôi dạt lên 97 km bờ biển Alaska là một nơi hoang vắng
năm 1974 một bài báo khác đăng trên tạp chí Science xác nhận những hạt nhựa hiện diện khắp Bắc Đại Tây Dương
50-69% mẫu vật được lấy từ nhiều thuyền trong khu vực đã cùng cho thấy những cục PS, xi lanh, đĩa [disc]
năm 1972-1976 khảo sát New Zealand tìm thấy những viên nén và hạt [granule] nhựa trôi dạt lên bờ biển nước này
thập niên 1970 ô nhiễm nhựa đã không được dư luận chú ý bằng DTT [di-chloro-di-phenyl-tri-chloro-ethane] hay PCB, ngoài một số lo ngại rằng những mảnh nhựa sẽ gây vướng, làm mắc nghẹn những động vật biển: chim hải âu, rùa
bản thân Edward J.Carpenter nói rằng ô nhiễm biển đã không đủ truyền tải một nghiên cứu trong tương lai, và quay trở lại nghiên cứu vi khuẩn đại dương
nhiều năm sau Edward J.Carpenter cho rằng, dư luận không chú ý đến chủ đề biển bị ô nhiễm nhựa, bởi vì: 1 là công chúng cho rằng nhựa là đồ có thể tái chế, trên thực tế chỉ có 10% nhựa được tái chế, và 2 là Edward J.Carpenter viện dẫn một kiến thức sai lầm của công chúng rằng nhựa dưới biển là rác từ những thuyền đánh cá hoặc tàu chở hàng
năm 1972 Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do hoạt động đổ chất thải và các vật chất khác (công ước Luân Đôn) tập hợp 80 quốc gia cấm đổ rác nhựa tổng hợp xuống biển
các nhà khoa học đã không thể xác nhận rằng những hạt nhựa này "đáng lo" trích lời một bài báo, không rõ có ảnh hưởng sức khoẻ con người hay không, trong khi đại dương rất rộng, viên nén và hột nhựa "khuất mắt khôn coi"

Hội nghị mảnh vụn
cuối thập niên 1970 những bài báo đã quan sát những viên nén nhựa công nghiệp ở bờ biển Canada, Bermuda, Li Băng và Tây Ban Nha đầu độc chim biển hoặc làm tắc ruột
năm 1982 uỷ ban thú biển MMC [marine mammal commission] liên lạc Phòng cá biển quốc gia NMFS [national marine fisheries service] để sắp xếp một buổi hội thảo [workshop]
cuối tháng 11 năm 1984 hội thảo về tình trạng và ảnh hưởng của mảnh vụn đại dương ở Hawaii có 125 người tham dự đến từ 8 quốc gia, mời các nhà nghiên cứu đến chia sẻ những báo cáo về nguồn gốc của những mảnh vụn này, ảnh hưởng của chúng đến nguồn tài nguyên biển, và tương lai của những mảnh vụn biển
hội thảo kết luận rằng những mảnh vụn đại dương đã xuất hiện trên tất cả đại dương và đang đe doạ động vật biển như hải cẩu và rùa, bằng cách làm vướng hoặc nuốt phải
một số điểm tích cực cũng được nhắc đến, ví dụ những mảnh vụn có thể làm nơi trú ẩn cho cá
hội thảo đã đề nghị một số khuyến nghị cơ bản: quy định việc vứt rác nhựa, sử dụng vật liệu và dụng cụ đánh cá có-thể-phân-huỷ-sinh-học, bắt buộc tái sử dụng lưới bắt cá
năm 1986 và 1989 tổ chức thêm những hội thảo chuyên đề [symposium] và hội nghị [conference] nhiều người tham dự hơn với nhiều chia sẻ hơn
thập niên 1980 và 1990 thông điệp nhựa ô nhiễm biển đã được truyền tải, báo chí đăng những hình ảnh chim bị quấn những vòng nhựa quanh cổ, câu chuyện "rùa ăn túi nilon"
một chi tiết gây chú ý dư luận là những hiệu ứng độc hại: nhựa làm từ những hoá chất độc hại như PCB và kim loại nặng
giữa thập niên 1980 những nhóm phi-lợi-nhuận và nhóm tình nguyện đã giúp dọn dẹp nhựa trên những bờ biển, ví dụ chương trình Beach tiểu bang Texas, những trạm tái chế ở Alaska xử lý những lưới bắt cá
cuối năm 1988 MARPOL Annex V có hiệu lực, hạn chế đổ rác nhựa và vật liệu tổng hợp khác như dây thừng, lưới cá, túi nilon... ngoài trừ trường hợp an toàn
cuối thập niên 1980 khuyến khích những biện pháp, ví dụ những cam kết tự nguyện tái chế công nghiệp, mã định danh resin, biểu tượng (ảnh dưới) giúp người tái chế phân loại hàng... nhưng thường cũng làm rối trí công chúng thêm

thập niên 1990 các nghiên cứu sinh đã thấy ít viên nén nhựa công nghiệp ở trong dạ dày chim hơn, nhưng số lượng vẫn nhiều, khi những rác công nghiệp này đã bị thay thế bởi những vật dụng tiêu dùng được làm bằng nhựa, ví dụ bộ đồ ăn dùng-một-lần và đóng gói

Vi nhựa
năm 2004 đội ngũ Richard Thompson trường đại học Plymouth xuất bản báo cáo có tựa đề "Mất tích ngoài biển: nhựa đi đâu hết?" miêu tả thuật ngữ 'vi nhựa' là những mảnh vụn nhỏ hơn 20 micromet, giả định rằng 'vi nhựa' đến từ việc thoái hoá và phân mảnh những mảnh lớn
báo cáo cũng phản ánh rằng nhựa trở nên phổ biến trong tự nhiên, khi so sánh những phân tích đất trầm tích ở Vương quốc Anh với những mẫu vật sinh vật phù du thập niên 1950
báo cáo một thử nghiệm cho những vi nhựa này vào một bể chứa những con hà biển, giun cát, những sinh vật ăn mùn bã hữu cơ... những sinh vật này đã ăn hết "vi nhựa" chỉ trong vòng 1 tuần
người phát ngôn của Hội đồng nhựa Mỹ [America plastics council] Robert S. Krebs đổ lỗi cho những phương pháp vứt không-đúng-cách, rằng: "bạn không thể buộc tội một loại vật liệu duy nhất... chúng ta đều chia sẻ trách nhiệm vứt rác xuống biển"
năm 2008 NOAA tổ chức hội thảo khác, chính thức định nghĩa "vi nhựa" là những mảnh nhỏ hơn 5 milimet, và dự kiến tương lai sẽ liệt kê "nhựa nano" là những mảnh nhỏ hơn 50 micromet
năm 2008 hội thảo thừa nhận rằng ít nghiên cứu ở lĩnh vực này, vẫn còn khoảng trống kiến thức, phần vì thiếu phương pháp thu thập, cô lập và định lượng những vi nhựa
trong 10 năm sau đấy, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra: 1 là số lượng "vi nhựa" rất nhiều
năm 2015 một báo cáo ước tính 15-51 nghìn tỷ hạt vi nhựa trên bề mặt biển, nặng 93-236 nghìn tấn
năm 2019 con số được cập nhật 82-358 nghìn tỷ hạt, nặng 1.1 - 4.9 triệu tấn, không nặng bằng khối lượng những mảnh nhựa lớn hơn, nhưng số lượng thì vượt trội
2 là "vi nhựa" khắp nơi: bờ biển, trầm tích đáy biển sâu, băng biển, sông suối, ao hồ, đất, khí quyển... "vi nhựa" bị cuốn lên mây và rơi xuống khi trời mưa... người ta tìm được "vi nhựa" trên đỉnh núi Everest
3 là động vật ăn "vi nhựa", tích tụ trong cơ thể... "vi nhựa" được phát hiện trong 1300 loài trên biển và trên cạn... cá, chim, động vật có vú
năm 2020 một nghiên cứu cho thấy 5-20 vạn hạt vi nhựa nhỏ dưới 10 micromet trong rau quả, một nghiên cứu khác tìm thấy hàng vạn hạt vi nhựa trong những miếng phi lê cá Địa Trung Hải

Sức khoẻ
năm 2013 một báo cáo nghiên cứu đã viết rằng cá ăn nhiều 'vi nhựa' có thể tích tụ độc chất như PCB, DDT và kim loại nặng, làm tổn hại gan và tế bào
"vi nhựa" có thể hấp thụ độc chất môi trường và phát tán vào cơ thể sinh vật ăn phải
nhiều nghiên cứu cho thấy những hạt vi nhựa làm viêm nhiễm bên trong những động vật (vật chủ được làm thí nghiệm) và những dòng tế bào người trong phòng thí nghiệm
rất ít nghiên cứu khẳng định những tác hại thực tế lên con người
"vi nhựa" là một thuật ngữ rất rộng: có 'vi nhựa' thoái hoá trong chưa đến 1 năm, có 'vi nhựa' bị chia nhỏ bởi vi khuẩn đường ruột, có 'vi nhựa' có độc, có 'vi nhựa' lành tính
tương quan [correlation] không đồng nghĩa với 'nhân quả' [causation], sức khoẻ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như sự giàu có và thói quen... cũng khó phát hiện 'vi nhựa' hay phát hiện 'nhựa nano'
năm 2024 báo New England Journal of Medicine xuất bản báo cáo 1 thí nghiệm: ghi danh 304 người bệnh phẫu thuật loại bỏ những mảng xơ vữa mạch máu [plaque] khỏi tim
người bệnh có 'vi nhựa' gặp rủi ro đột quỵ, nhồi máu cơ tim, đột tử... cao hơn trong vòng 33 tháng sau đó
nghiên cứu năm 2024 cũng cho thấy 'vi nhựa' PVC và PET [polyethylene terephthalate] trong tinh hoàn người và chó làm giảm số lượng tinh trùng

Nhựa đi đâu ngoài biển
mỗi năm 11 triệu tấn nhựa vứt ra biển
mỗi năm 300 triệu tấn nhựa được sản xuất toàn cầu, chỉ 10% được tái chế
hiện vẫn còn 75-200 triệu tấn nhựa sót lại dưới biển
những phương pháp lọc và xử lý nước thải đã được thực hiện để lọc 'vi nhựa' khỏi nước sinh hoạt, hoặc sử dụng tảo xanh hoặc hợp chất hoá học để lọc lấy 'vi nhựa'

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

TSMC và chuỗi cung bán dẫn

Ben Thompson sáng lập Stratechery
ngày 8 tháng 3 năm 2024 Ben Thompson trình làng Passport là một trình cắm WordPress
thập niên 1950 giáo sư Jay Wright Forrester trường MIT phát triển "trò chơi phân phối bia" là một trình mô phỏng kinh doanh tương tác, trên bộ nhớ lõi từ [magnetic core], nhập vai một người bán bia ở một trong 4 phân nhánh: bán lẻ, bán buôn, nhà phân phối, nhà máy
người bán lẻ sẽ muốn tối thiểu hoá hàng tồn kho, để giảm chi phí lưu kho, đồng thời không muốn tình trạng hết hàng tồn [stockout] sẽ làm mất doanh thu
người bán lẻ sẽ bổ sung hàng tồn kho, bằng những đơn hàng đặt từ người bán buôn
người bán buôn sẽ tìm nhà phân phối để tải hàng về, nhà phân phối sẽ mua hàng từ nhà máy
vậy là, sẽ có thời gian chậm trễ, cho việc xử lý đơn hàng, vận chuyển, sản xuất

Vi xử lý
TSMC có hàng nghìn nhà cung cấp, chia làm 2 hạng mục: thiết bị (công cụ in thạch bản) và vật liệu (chất cản quang, wafer silic, khí etch axit)
chỉ riêng quy trình lắng đọng [deposition] đã có nhiều phiên bản, ví dụ LP CVD [low pressure chemical vapor deposition], mọc ghép chùm phân tử [molecular beam epitaxi], ALD [atomic layer deposition]
mỗi "ngách" công cụ, thường có 3 đối tác thiết bị: Applied Material, Lam Research, Tokyo Electron
Đài Loan và Hoa Kỳ đều gặp vấn đề cung cấp điện nước, bất động sản, nhân lực

Bộ nhớ
chip AI của Nvidia sử dụng DRAM băng thông cao HBM [high bandwidth memory] từ 3 hãng Samsung, Micron và SK Hynix
Phương Tây bị cấm sử dụng các hãng bộ nhớ Trung Quốc
từ năm 1961 đến 2006 điện tử tiêu dùng Hoa Kỳ tăng trưởng, biến động 0-20% khiến gây ra những biến động 20-40% của ngành bán dẫn, khiến gây ra những biến động 60% của ngành thiết bị sản xuất bán dẫn
trung bình 4.5 tháng để đúc và đóng gói 1 con chip điện tử, mất 18-24 tháng xây dựng một xưởng đúc [fab] tính từ khi động thổ cho đến khi sản xuất được chip, mất 12-18 tháng lắp đặt một máy EUV vào xưởng fab, và thêm nửa năm nữa để máy EUV bắt đầu thực sự sản xuất chip
báo cáo năm 2025 của ASML cho thấy 13.2 tỷ EUR đơn đặt hàng "ròng" mới, vượt kỳ vọng 6.32 tỷ EUR của các nhà phân tích, sau khi TSMC tăng chi tiêu vốn 35%
ASML nhận đơn hàng, không chỉ từ TSMC, mà còn từ Samsung, Intel và những hãng bộ nhớ khác

Làm việc từ xa
năm 2021 New York Times, Wall Street Journal và các ấn phẩm blog đã giật tít rằng nền kinh tế Hoa Kỳ đang cày cuốc đến kiệt sức, vì không nhận được những vi xử lý "thế hệ cũ" [trailing edge] khiến các hãng ô tô đóng cửa nhà máy
năm 2022 TSMC đầu tư 36 tỷ USD chi tiêu vốn
năm 2024 Marc Hijink xuất bán sách Focus miêu tả chi tiết những tương tác căng thẳng với Phó chủ tịch R&D bấy giờ của TSMC, hiện đã chuyển sang Intel
cuối tháng 11 năm 2022 TSMC công bố những nhà máy "thế hệ cũ" [trailing edge] dự kiến ở Cao Hùng, chạy node quy trình 29 nanomet
sau rốt, những khách hàng của TSMC đã đặt trùng [double book] và thổi phồng nhu cầu
năm 2022 tình hình kinh tế vĩ mô đã cải thiện, các khách hàng đã bắt đầu cắt giảm đơn mua chip ô tô, điện thoại và máy tính
cuối năm 2022 thung lũng Silicon đã chuyển hướng sang ChatGPT, các trung tâm dữ liệu đã bắt đầu mở rộng, bỏ lại TSMC những xưởng fab N7 trị giá hàng tỷ USD bỏ không, tỷ lệ tối ưu nhà máy đã sụp đổ
tháng 4 năm 2023 SemiAnalysis viết: "dữ liệu chúng tôi cho thấy những tỷ lệ tối ưu N7 giảm còn chưa đến 70% vào quý 1. Quý 2 còn tệ hơn, tỷ lệ còn dưới 60% chủ yếu vì thị trường điện thoại và máy tính yếu ớt, và hầu hết các phân khúc đều yếu"
60-70% là tỷ lệ tối ưu nhà máy "hoà vốn", các xưởng fab N7 ở Cao Hùng chịu lỗ hàng trăm triệu USD, có thể đến tỷ USD
năm 2022-2023 giá cổ phiếu TSMC nhìn mong manh

Intel
từ năm 2021 đến năm 2023 Intel thuê 2 vạn nhân viên, công bố hàng tỷ USD đầu tư các xưởng fab và đề ra kế hoạch triển khai một node quy trình tiên tiến
làn sóng "làm việc từ xa" nổi lên, các trung tâm dữ liệu đã mua GPU thay vì CPU, Intel phải sa thải hàng nghìn nhân viên và giám đốc Pat Gelsinger
Ben Thompson chỉ trích việc chi tiêu vốn của TSMC năm 2023-2024 đã không theo kịp việc trình làng ChatGPT tháng 11 năm 2022
tháng 4 năm 2023 tại cuộc họp công bố thu nhập TSMC, CC Wei nói: "chúng tôi không thấy dấu hiệu tích cực của việc người ta chú ý đến những ứng dụng AI, nhất là ở lĩnh vực của ChatGPT. Như tôi đã nói, về mặt định lượng, chúng tôi không có đủ dữ liệu để kết luận được lý do là gì, và tỷ lệ đóng góp vào việc kinh doanh của TSMC"
CC Wei nhắc đến những đơn hàng đầu tiên của Nvidia tăng sản lượng CoWoS: "trong 2 năm mới đây, tôi nhận cuộc gọi điện của khách, yêu cầu tăng sản lượng back-end nhất là ở CoWoS. Chúng tôi vẫn đang cân nhắc lời đề nghị"
tháng 7 năm 2023 CC Wei nói rằng các bộ tăng tốc AI chiếm 6% doanh thu TSMC và dự kiến sẽ tăng đến đầu 1x% với x là số nhỏ, trong những năm tới
TSMC cũng đã dự báo doanh thu năm 2023 giảm 10% vì những lý do vĩ mô, hậu-covid và căng thẳng Trung Quốc đang diễn ra
giữa năm 2024 TSMC vất vả với những "nghẽn cổ chai" sản lượng CoWoS và vấn đề hiệu suất, trong đó có 1 vấn đề thiết kế đã khiến những đóng gói chip Nvidia bị nứt
một kỹ sư đóng gói TSMC kể lại những thử nghiệm tối muộn, để tìm cách chỉnh sửa đúng cho vấn đề; Nvidia nói với TSMC hãy sử dụng mọi lựa chọn chỉnh sửa có thể, và thử chạy trên wafer "sống", tức là đẩy trực tiếp vào sản xuất
cuối năm 2024 báo chí đăng tin những nhà cung cấp rack máy chủ Blackwell của Nvidia gặp vấn đề quá nóng, rò rỉ nước tản nhiệt, lỗi phần mềm, vấn đề kết nối... trì hoãn triển khai đến giữa năm 2025
tháng 9 năm 2023 rồi tháng 6 năm 2024 Seoia Capital đăng những bài viết đặt câu hỏi về 200 tỷ USD đầu tư AI, rồi lên đến 600 tỷ USD đầu tư AI

Điện lực
CC Wei nói: "nói về việc xây dựng nhiều trung tâm dữ liệu AI khắp thế giới, tôi xin dẫn lời 1 khách hàng. Tôi đã hỏi cùng câu hỏi... họ nói rằng họ đã xong phần việc cấp điện 5-6 năm trước"
"cho nên, hiện nay, thông điệp của họ gửi tôi rằng: thiết bị silic từ TSMC là nút nghẽn cổ chai, và xin tôi không chú ý đến những thứ khác, vì họ cần giải quyết vấn đề nghẽn silic trước"
kế toán trưởng Gina Proctor của chi nhánh TSMC Arizona đăng trên LinkedIn một bài viết đã bị xoá, rằng "nút nghẽn cổ chai AI không phải chip, mà là vấn đề điện lực"
Elon Musk mua cả những tua-bin khí đốt gắn-xe-tải đến những trung tâm dữ liệu, những tua-bin mới sẽ không sẵn trước năm 2029

Phần mềm
đã 30 năm kể từ khi Thung lũng Silicon còn sản xuất phần cứng
những người sản xuất phần cứng ở Santa Clara, Sunnyville và Palo Alto đã già, có thể đã nghỉ hưu
ở San Francisco, những người làm phần mềm và AI nói rằng họ gần như không biết gì đến phần cứng